Ngữ Lục Thiền Sư Tuệ Chiếu Tôn Lâm Tế PDF.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/4/2015.
Saturday, 4 April 2015
Hai hạng người đáng được cúng dường
Một thời, Thế Tôn ở tại Sàvatthi, vườn ông Anàthapindika. Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến đảnh lễ và bạch Thế Tôn: Có bao nhiêu hạng người, bạch Thế Tôn, đáng được cúng dường ở đời? Và chỗ nào cần phải bố thí và cúng dường? Này gia chủ, có hai hạng người đáng được cúng dường ở đời: Hữu học và Vô học. Đối với hai hạng người này xứng đáng được cúng dường ở đời. Và này gia chủ, ở đây (tinh xá Kỳ Viên) cần phải bố thí và cúng dường.
“Hữu học và Vô học/Cả hai ở trong đời/Đều đáng được cúng dường/Đối với người dâng cúng/Phải giữ thân chánh trực/Cả lời nói, ý nghĩ/Phước điền người dâng cúng/Đây thí có quả lớn”.
LỜI BÀN:
Bố thí là mở rộng tấm lòng, ban phát cho những người nghèo khổ thực phẩm, quần áo, thuốc men… hay tạo sinh kế cho người cơ nhỡ, thất nghiệp. Cúng dường là dâng cúng phẩm vật lên những bậc tu hành phạm hạnh với lòng kính trọng, tâm nguyện chí thành. Tất cả những phước báo tốt đẹp trong hiện tại và tương lai đều nhờ vào sự gieo trồng phước đức bố thí và cúng dường này.
Được cúng dường những bậc giới đức, phạm hạnh càng cao thì phước báo càng lớn. Gia chủ Anàthapindika (Cấp Cô Độc), đệ tử ngoại hộ trụ tín của Thế Tôn, không chỉ cúng dường Phật và chư Tăng mà còn cúng dường hết thảy các Sa môn, Bà la môn. Nhưng khi muốn xác định hạng người nào xứng đáng được cúng dường nhất thì Thế Tôn khẳng định đó là hai hạng Hữu học và Vô học. Vì đây là những Thánh giả đã từng bước đoạn tận phiền não, tham ái, chứng đắc quả vị từ Tu đà hoàn, Tư đà hàm đến A na hàm (Hữu học) và đặc biệt những vị Thánh A la hán (Vô học) hoàn toàn đoạn tận kiết sử, thoát ly sanh tử, phước trí trang nghiêm là ruộng phước tối thượng ở đời. Thế Tôn còn xác định trụ xứ cần phải cúng dường chính là những đạo tràng tu tập của chư Tăng như các tinh xá, chùa viện. Vì đó là nơi sản sinh ra những bậc Thánh Hữu học và Vô học mà không nơi nào có thể thành tựu được.
Song hành với việc xác định đúng địa điểm và đối tượng cúng dường, người Phật tử phải trang nghiêm tự thân bằng cách tu tập hướng đến thanh tịnh ba nghiệp. Theo tuệ giác Thế Tôn, người cúng dường cần phải chuyển hóa ba nghiệp thân miệng ý cho thanh tịnh thì phước báo mới thật sự tròn đầy. Đây chính là như pháp cúng dường tức thực hành viên mãn cả hai phương diện trên sẽ tạo ra phước báo vô lượng cho thí chủ.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/4/2015.
Friday, 3 April 2015
Sống ngày nào, vui ngày nấy ! Đó là giải thoát
!
2-Hạnh phúc : Vô Thường
3-Tiền : Vô Thường
4- Đời sống : Vô Thường
1-Thời gian : Vô Thường
Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã
già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời thì mới Qua
một ngày vui một ngày.sống thanh thản, sống thoải mái.
Qua một ngày mất một ngày.
2-Hạnh phúc : Vô Thường
Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối
cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời
sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận,
điều quan trọng là ở tâm trạng.
3-Tiền : Vô Thường
Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì.
Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy
nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có
người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua
được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua
được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền biết tiêu
tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó.(Khó lắm !?!?)
4- Đời sống : Vô Thường
“Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó
phong phú”. Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư
khổ hạnh”, hãy làm “con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi
thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả
công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.
5-Thê´Gian : Vô Thường
-Tiền bạc là của con ( không chắc lám) -Tài sản có thể
bị mất vì các nguyên nhân:1-Thiên tai,2-Hỏa hoạn, 3-Pháp lênh của vua hay chính
quyền tich thu, quốc hửu hóa,4-Trộm cướp, 5-Con cái )
- Địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khỏe là
của mình.
-Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có
hạn.
-Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút hỏi
vài câu là thấy đủ rồi.
-Con tiêu tiền cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền con
chẳng dễ.
-Nhà cha mẹ là nhà con; nhà con không phải là nhà cha
mẹ.
Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho
con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp.
-Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.
--Ốm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng
chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử).
Trông vào bạn đời ư? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng
không làm nổi.
Trông cậy vào đồng tiền ư? Chỉ còn cách
ấy.
-Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì
nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm.
Chân lý của Đạo ,thực ra sự sung sướng và hạnh phúc
trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý
trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý
nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.
Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức
cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng
bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường
lạc).
Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết
mệt, tự tìm niềm vui.
Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc
giúp người làm niềm vui.
Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn,
tận tâm vì công việc là coi như có cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với
lương tâm là được.. Huống hồ nghĩ ra, ai cũng thế cả, cuối cùng là trở về với tự
nhiên. Thực ra ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui
thanh cao.
Quá nửa đời người dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia
đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mình,
quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc nào muốn thì làm, ai nói
sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên
sống thật với mình.
Sống ở trên đời không thể nào vạn sự như ý, có khiếm
khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn
làm cho khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực, thế nào cũng
xong.
Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già; Tuổi
không già tâm già, thế là không già mà già. Nhưng xử lý một vấn đề thì nên nghe
già.
Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức. Ăn uống
quá thanh đạm thì không đủ chất bổ; quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được.
Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ; quá ồn áo thì khó chịu…. Mọi thứ đều nên “vừa
phải”.
Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn tham
uống…).
Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa
bệnh).
Người khôn phòng bệnh, chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc
sống..
Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới
ngủ, ốm mới khám chữa bệnh… Tất cả đều là muộn.
Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu
tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy hướng lợi là bất cứ việc gì đều xét theo yếu
tố có lợi, dùng tư duy hướng lợi để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi
già đầy sức sống và sự tự tin, cuộc sống có hương vị; tư duy hướng hại là tư duy
tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng
chết.
Chơi là một trong những nhu cầu cơ bản của tuổi già,
hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi ưa thích nhất, trong khi
chơi hãy thể nghiệm niềm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa. Về tâm và
sinh lý, người già cũng cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn lành
mạnh.
“Hoàn toàn khỏe mạnh”, đó là nói thân thể khỏe mạnh,
tâm lý khỏe mạnh và đạo đức khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết
tự chủ, biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu, sẵn lòng giúp
người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.
Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập,
bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân
trong hoạt động xã hội, thể hiện giá trị của mình, đó là cuộc sống lành
mạnh.
Cuộc sống tuổi già nên đa tầng đa nguyên, nhiều màu
sắc, có một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có cả một nhóm bạn già, tình bạn làm
đẹp thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu
sắc.
Con người ta chịu đựng, hóa giải và xua tan nỗi đau đều
chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất. Quan trọng
là khi đau buồn bạn chọn cách sống thế nào.
Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ
chuyện xa xưa)? Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự
nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân cuối, tâm
linh cần trong lành, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tim lại những tình
cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ
thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm
lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong
những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già.
Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng
không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà
được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt.
Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại
được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ
thẹn với lương tâm và :
Cuối cùng đặt cho mình một dấu châm hết thật tròn. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/4/2015.
Cuối cùng đặt cho mình một dấu châm hết thật tròn. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/4/2015.
Giá trị lớn nhất của đạo Phật là chỉ ra nếp sống hướng thiện, một phương pháp thực nghiệm tâm linh khiến mọi người biết sống với nhau bằng một trái tim yêu thương và khối óc được vận hành theo một trí tuệ hiểu biết. Hay nói cách khác, người học Phật phải biết ứng dụng những chân giá trị mà Phật đã dạy vào trong cuộc sống tự thân, thì mới có thể làm cho những giá trị đó hòa quyện vào thân tâm mình, trở thành xương máu của cơ thể mình, khiến cho cả cuộc đời mình được thăng hoa, hướng tới chân thiện mỹ và thật sự an lạc, hạnh phúc.
Do đó, trong đời sống hàng ngày, việc thực tập đời sống hướng nội luôn làm cho mọi người yêu thương nhau nhiều hơn. Thế nên, Phật từng ca ngợi ai sống với lòng từ thì người đó đang có một trạng thái tâm thức đẹp nhất trên thế gian này. Vì thế, Phật thường khuyên nhủ mọi người hãy tu tập từ tâm, hay sống với lòng từ:
“Hãy tu tập từ tâm,
Trong tất cả thế giới,
Hãy tu tập tâm ý,
Không hạn lượng rộng lớn.
Phía trên và phía dưới,
Cũng vậy cả bề ngang,
Không hạn chế trói buộc,
Không hận, không thù địch”
(Tiểu bộ kinh - Kinh Từ bi)
Phật lại giảng tiếp:
“Khi đi hay khi đứng,
Khi ngồi hay khi nằm,
Lâu cho đến khi nào,
Khi đang còn tỉnh thức,
Hãy an trú niệm này,
Nếp sống này như vậy,
Được đời đề cập đến,
Là nếp sống tối thượng”
(Kinh Từ bi)
Cũng trong kinh Từ bi, Phật ví lòng từ như tình thương của người mẹ đối với đứa con một của mình. Ví dụ này thật sâu sắc và có ý nghĩa. Lòng từ mà Phật ca ngợi đâu có phải là đức hạnh cao vời của bậc Thánh, siêu việt thế gian này, ngoài tầm với của chúng ta. Mà trái lại, bạn sẽ thấy vô cùng gần gũi và thân thương, vì trong lòng mỗi người, có ai lại không có mẹ, lại chưa từng được lòng từ của mẹ ấp ủ, đùm bọc!
Nói như vậy để thấy, mọi người trong chúng ta đều có thể ứng dụng lòng từ vào cuộc sống hàng ngày, ngay nơi chúng ta đang sống và ngay bây giờ trong hiện tại. Ngay trong gia đình, trong ngôi nhà chúng ta ở, hãy yêu thương cha mẹ, con cháu mình với tình thương rộng mở; chồng hãy yêu thương vợ, và vợ cũng yêu thương chồng như vậy với tình thương rộng mở. Rồi với bạn bè gần xa, với mọi người,... không những thế với những con vật nuôi, thậm chí cả với cây cỏ trồng xung quanh nhà, hãy săn sóc chúng với tất cả tình thương yêu rộng lớn, một tình thương không giới hạn, không bến bờ.
Thế nên, sống trong một thế giới đầy khổ đau, khi con người thường xuyên phải đối diện với những cơn lốc vô thường, sự mất mát, sự hơn thua, cái có, cái không…, thì việc tu tập và ứng dụng tâm từ vào trong đời sống thường nhật là điều tất yếu. Nếu không như thế, bạn sẽ rơi vào sự chơi vơi, lạc lõng, mất quân bình về mặt tâm lý. Bạn cần phải có thái độ sống hoan hỷ, mở rộng cõi lòng, đón nhận tất cả mọi tình huống xảy ra và sẵn sàng chuyển hóa. Nghĩa là thay vì đau khổ buồn chán và than khóc, chán đời thì phải biết trải nghiệm thực tập hạnh từ, cũng như sự yêu thương để hướng tâm đi vào lộ trình sống thiện, sống hoan hỷ, sống an lạc. Trong một gia đình, nếu có một người con hiếu thuận với cha mẹ, hẳn nhiên dễ hòa hiếu với bà con lối xóm, những người cộng sự với mình. Người cha yêu thương con cái mình, thì không thể bỏ rơi con cái, cũng như khó mà bỏ rơi những người thân và những người khác xung quanh mình.
Một người Phật tử thường xuyên đọc kinh Phật và thực hành theo lời Phật chỉ dạy thì sẽ dễ dàng cải thiện tâm mình theo hướng chân thiện mỹ. Lời dạy trong kinh hẳn nhiên tác động đến thân tâm chúng ta như liều thuốc kháng sinh, giúp loại trừ những độc tố tham, sân, si trong con người, đồng thời cũng là một liều thuốc bổ bồi dưỡng mọi căn lành trong tâm thức.
Đức Phật thường khuyên chúng ta không nên tư biện suông, đặc biệt là tư biện những vấn đề siêu hình, chỉ làm mất thời giờ, mà không có ích gì cho sự nghiệp giải thoát và giác ngộ. Hãy suy ngẫm về những câu sau đây trong kinh “niệm hơi thở vô, hơi thở ra”, chúng ta sẽ biết thế nào là ứng dụng Phật học vào đời sống:“Quán vô thường, tôi thở vô, quán vô thường, tôi thở ra... quán ly tham...”. Khi trải nghiệm về sự quán chiếu vô thường như thế, tâm thức tự thân sẽ hướng đến sự ly tham, rồi đến sự đoạn diệt, và sự từ bỏ.
Tham là gốc của khổ, ly tham tức là đoạn diệt gốc rễ của khổ. Cuối cùng là sự từ bỏ mọi vướng mắc, chấp thủ, là sự giải thoát.
Quán lòng từ cũng phải như vậy, nghĩa là sự trải nghiệm lòng từ dẫn đến một sự chuyển biến thật sự của tâm thức. Tâm thức từ bỏ chỗ hạn hẹp, vị kỷ chuyển biến thành rộng lớn, vô biên, trải rộng khắp bốn phương, trên dưới, như trong kinh Phật dạy.
Ứng dụng lòng từ không có nghĩa gì khác là mở rộng tâm thức, không phải hạn chế hay tiêu diệt tình cảm riêng tư như một vài người hiểu nhầm Phật giáo, mà phải mở rộng tình cảm đến chỗ bao quát mọi người, mọi vật. Kinh nghiệm cho thấy, càng mở rộng tình cảm bao nhiêu, thì tình cảm đó càng trong sáng bấy nhiêu, càng dễ cho con người chủ động, điều hòa bấy nhiêu. Trái lại, tình cảm càng hạn hẹp, càng khó cho con người điều hòa, hướng dẫn.
Đó thật sự là bí quyết của phương pháp điều tâm. Muốn điều tâm, đem lại sự an lạc cho tâm, thì hãy mở rộng tâm, mà mở rộng tâm, cụ thể và thực tế nhất là mở rộng lòng từ, bao quát hết mọi người, mọi vật, mọi chúng sanh.
Khi lòng từ được mở rộng và trải khắp thì con người mới có khả năng đón nhận khả tính tình yêu vô hạn, không còn giới hạn bằng sự chấp thủ và khát ái trong sự đối đãi phân biệt. Sự an lạc sẽ được an trú ngay lòng mình và có khả năng kết nối, lan truyền đến với mọi người xung quanh. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, một người giữ tâm vắng lặng và nhiệt tâm tinh cần làm các việc thiện lành để hiến dâng cho đời thì chính bản thân họ được hạnh phúc và tác động đến người khác trong việc hướng tâm theo nếp sống hướng thiện. Kết quả, cá nhân đó không chỉ hiện tại lạc trú mà đời sau còn phước báu được sinh vào trú xứ thiện lành đúng như lời Phật dạy.
Trong Tăng chi bộ I, có bài kinh Hạt muối rất hay, cũng có ý nghĩa tương tự. Một ly nước bé nhỏ, thì một nhúm muối, cũng đủ làm cho nước trong ly mặn đến mức không uống được. Cũng như vậy, với một cái tâm hạn hẹp, bé nhỏ thì một chút đau khổ cũng đủ làm cho nó không chịu đựng được. Nhưng thay vì một ly nước nhỏ mà là cả nước sông Hằng rộng lớn, thì một nhúm muối bỏ vào có can gì. Với tâm từ mở rộng tới vô lượng, vô biên, thì có khó khăn gì mà vị Bồ-tát không thể vượt qua. Hãy đối đãi với mọi người, mọi vật với lòng từ rộng lớn, thì mọi công việc gì dù khó khăn đến đâu, chúng ta đều có thể làm được.
Nói tóm lại, mỗi khi lòng từ hóa hiện thì mọi tình cảm sẽ được chuyển hóa bằng trí tuệ. Mà có tình cảm nào cao quý hơn, rộng lớn hơn, lôi cuốn hơn là lòng từ, mà Phật Thích Ca từng ca ngợi là trạng thái tinh thần tốt đẹp nhất trên thế gian này.
Nếu nhận thức lòng từ được như vậy, thì việc thực hành và trang trải lòng từ trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người đâu có phải chuyện xa vời, không làm được. Đến đây có thể nói, yêu và được yêu là điều hạnh phúc nhất trên đời mà bạn sẽ dang tay đón nhận.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/4/2015.
Hãy Tỉnh Thức Để Thấy Rõ Bộ Mặt đích Thực Của Bản Ngã.
Đồ đệ: Con có thể hỏi thầy một vấn đề? Trước đây, thầy đã nói về bản chất mơ hồ của cái tôi. Vậy, sự khác biệt giữa bản thân của nó và nhận thức về nó là gì?
Rinpoche: Sự tỉnh thức nhận biết các pháp là tâm. Sự tỉnh thức đó không phải là cái tôi hay tự ngã. Tâm là một phần của các uẩn. Trong đời sống này, bạn có thân tâm. Sự kết hợp của thân tâm là các uẩn mà bạn gọi là “tôi”. Thân và tâm là các uẩn; cái tôi là bị gắn nhãn hiệu. Các uẩn và nhãn hiệu là hai hiện tượng khác nhau. Tuy nhiên, không chỉ như vậy. Cái tôi là kẻ chiếm hữu; tâm là đối tượng bị chiếm hữu. Khi bạn nói “tâm của tôi”, thì cái tôi là kẻ chiếm hữu còn tâm là vật sở hữu. Chúng là chủ thể và khách thể; hai phạm trù khác nhau chứ không phải một. Do đó, sự tỉnh thức nhận biết các pháp không phải là cái tôi. Nó không phải là cái tôi đích thực—cái tôi xuất hiện trong chúng ta không chỉ đơn thuần bị tâm gán ghép—thậm chí cũng không chỉ đơn thuần được gán nhãn hiệu “cái tôi”. Bạn không thể tìm thấy cái tôi trong các uẩn của mình, từ đầu tóc đến ngón chân—thân không phải là cái tôi; tâm không phải là cái tôi; ngay cả sự kết hợp của thân tâm cũng không phải là cái tôi; cái tôi không thể được tìm thấy bất cứ nơi đâu—không có nghĩa rằng nó không tồn tại. Cái tôi vẫn tồn tại. Cái tôi, bản ngã, không thể được tìm thấy trong các uẩn của bạn, sự kết hợp của thân tâm. Cái tôi đích thực xuất hiện ở đây không thể được tìm thấy. Ngay cả cái tôi đơn thuần chỉ bị gán ghép cũng không thể được tìm thấy. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa cái tôi không tồn tại trong phòng này. Nó vẫn tồn tại trong phòng này; nó tồn tại ở châu Mỹ. Nhưng nó không tồn tại dựa trên sự kết hợp thân tâm của bạn.
Khi thân và tâm của bạn đang ở trong phòng này, thì cái tôi không thể được tìm thấy trong các uẩn đó, nhưng nó tồn tại trong phòng này. Tuy nhiên lý do duy nhất để nói rằng hiện giờ nó tồn tại trong phòng này và không có mặt ở nhà là sự kết hợp thân tâm của bạn đang ở trong phòng này. Đây là lý do duy nhất, dù bạn không thể tìm thấy cái tôi dựa trên chúng. Khi thân tâm của bạn rời khỏi phòng này, thì cái tôi không còn hiện hữu trong phòng này.Vậy, cái tôi đó là gì? Nó không gì khác hơn những gì đơn thuần đã bị tâm gán ghép bởi vì sự tồn tại của các uẩn, sự kết hợp của thân và tâm.
Bằng cách phân tích cái tôi của mình theo chiều hướng này, bạn có thể thấy rằng nó hoàn toàn là một điều gì đó khác biệt, hoàn toàn sai biệt với những gì bạn đã từng suy nghỉ tới, lúc mới chào đời cho đến bây giờ. Suốt thời gian này, tâm của bạn đơi thuần chỉ bị gán ghép cái tôi dựa trên sự kết hợp của thân tâm và đó là cách mà nó tồn tại. Tuy nhiên, Nhưng mỗi khi tâm của bạn đã gán ghép cái tôi, thì nó không xuất hiện trở lại với bạn như thể nó đơn thuần chỉ bị gán ghép. Điều đó có vấn đề. Nếu cái tôi vốn thường xuyên xuất hiện với bạn chỉ đơn thuần do tân gán ghép, thì nó có thẻ khiến bạn sanh khởi tức giận, ghanh tị, tham lam, cố chấp và tất cả những ý tưởng cảm xúc khổ đau khác. Nếu bạn có thể nhận thức rõ cái tôi chỉ đơn thuần do tâm áp đặt, thì không có cơ sở dựa trên các vọng tưởng sanh khởi. Sau đó, bạn sẽ không gây tạo nghiệp lực, khổ đau hoặc luân hồi.
Những gì xảy ra là sau khi tâm bạn đơn thuần gán ghép cái tôi, khi nó xuất hiện trở lại với bạn thì nó không có mặt như thể nó đã từng bị tâm gán ghép. Nó xuất hiện trở lại trong chiều hướng hoàn toàn đối nghịch, dường như nó không bị tâm gán ghép. Đó là vọng tưởng. Do vậy, bản chất của cái tôi đơn thuần bị tâm gán ghép là hoàn toàn trống rỗng. Nó có mặt, nhưng nó hoàn toàn trống rỗng. Nó hiện hữu, nhưng nó hoàn toàn trống rỗng trong sự tồn tại từ khía cạnh của chính nó. Trong khi nó trống rỗng trong sự tồn tại của chính mình, thì cái tôi hiện hữu. Tại sao? Vì chỉ là tên gọi. Khi thấy rõ điều này, bạn đã đạt được nhận thức chân thực về tánh không. Dựa vào đối tượng duy nhất, cái tôi, bạn có thể hợp nhất duyên khởi[1] và tánh không. Cái tôi vừa là trống rỗng vừa là tồn tại. Nó tồn tại nhưng lại trống rỗng. Khi nhận thức rõ hai phạm trù này mà không hề có khái niệm phân biệt, bạn đã đạt được nhận thức chính xác về tánh không. Nếu, trong những gì mình nghỉ là nhận thức tánh không, bạn không thể hợp nhất hai phạm trù ấy hoặc tìm thấy sự mâu thuẩn với tồn tại, thì cái gọi nhận thức tánh không của bạn là sai lầm. Khi nó đi đến điểm này và bạn không xác định rõ cách mà cái tôi tồn tại, thì bạn không thể thấy được sự tồn tại của cái tôi, có nghĩa nhận thức về tánh không của bạn không phải là nhận thức đích thực về tánh không mà chỉ là sự trống rỗng thông thường (cái không đối lập với cái có).
Khi bạn phân tích, cái tôi trở nên vô cùng vi tế—vi tế đến nổi mặc dù không tồn tại, nhưng dường như nó đã tồn tại. Nó không tồn tại, nhưng có vẽ như nó không tồn tại. Nó không tồn tại; nó trở nên một hiện tượng vi tế lạ thường. Ranh giới giữa sự tồn tại và không tồn tại của cái tôi cực kỳ tinh xảo và vô cùng vi tế. Nó tin xảo đến nổi những gì tồn tại xuất hiện dường như không tồn tại. Tuy nhiên, đó là những gì chỉ đơn thuần do tâm quy ước.
[1] Duyên Khởi(prat´tya-samutp?da): Là giáo lý quan trọng nhất của Phật giáo, nó là giáo lý được đức Thế Tôn chứng ngộ dưới cội cây Bồ đề (Bodhi), trước khi Ngài trở thành đấng giác ngộ, bậc Đạo sư cho chư Thiên và loài người. Có thể nói, Duyên khởi không chỉ là giáo lý chỉ rõ nguyên tắc vận hành của mọi pháp trong thế gian, từ vật lý cho đến tâm lý, không một pháp nào hình thành hay biến hoại mà ra ngoài qui luật này, nó còn là lý thuyết đầu tiên phản bác hệ thống triết học Vệ Đà của Bà la môn, phủ nhận tư tưởng sáng tạo của đấng Phạm Thiên (Brahman) để hình thành tư tưởng “Tự tác tự thọ” (mình làm mình chịu) đề cao vị trí con người, con người là chủ nhân ông cho chính mình, không ai khác hơn có thẩm quyền định đoạt cuộc sống cho mình.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/4/2015.
Thiền con đường giải thoát tri kiến.
Thiền, thường gọi là thiền na, Trung Hoa dịch là “tĩnh lự”, tức là nói về tâm an định, trong sự an định đó lìa cả hai bên. Trong bản thể thanh tịnh đó không có những tri giải, tri kiến, không có tật đố, ích kỷ, ngã mạn, san tham. Có nhiều người tu thiền bị dính mắc, ngay cả người xuất gia nếu không khéo tu cũng bị dính mắc. Từ sự dính mắc đó đưa đến sự tranh đấu hay đưa lý thiền ra để tranh cãi.
Một hôm, có Phạm chí bà la môn đến hỏi Phật: Thưa Sa môn Cồ Đàm, thế nào là Bà la môn tranh đấu với Bà la môn?
Phật nói: Do còn chấp ngã.
Ông hỏi tiếp: Thế nào là Sát đế lợi tranh đấu với Sát đế lợi?
Phật nói: Do còn chấp ngã.
Bà la môn lại hỏi: Thưa Sa môn Cồ Đàm, thế nào là Sa môn tranh đấu với Sa môn?
Phật trả lời: Do còn chấp pháp.
Sở dĩ chúng ta chấp pháp là vì còn dính mắc vào tri kiến. Tri kiến có nghĩa là thấy biết. Tôi thấy biết như thế, anh thấy biết như thế, hai cái thấy biết khác nhau gặp nhau đưa đến sự tranh đấu. Trong sử 33 vị Tổ có chuyện vua Kế Tân chém đầu Tổ Sư Tử. Nguyên do là trong đời quá khứ, hai vị là cư sĩ gặp nhau tranh luận về Phật pháp, một người thắng, một người thua. Người thua về tìm cách bỏ độc dược để người thắng chết. Người thua chính là Tổ Sư Tử, còn người thắng chính là vua Kế Tân. Với mối hận thù như thế nên kiếp này Tổ Sư Tử phải trả.
Cho nên, ngày hôm nay, chúng tôi muốn chia sẻ với quý Phật tử một bài pháp là “Thiền – con đường giải thoát tri kiến”.
II. THIỀN – HÀNH TRÌNH VỀ CÕI DIỆU GIÁC
Thiền sư Vô Môn nói: “Phật dạy ‘Lấy tâm là gốc, lấy cửa không là cửa pháp’. Đã nói là cửa không, tức không có cửa thì làm sao qua? Há chẳng nghe từ cửa mà vào chẳng phải là đồ gia bảo. Từ duyên mà được, trước sau cũng thành hoại”.
Tổ Bồ Đề Đạt Ma sau khi sang Trung Hoa thấy tình trạng chấp chặt vào văn tự tri kiến nên tuyên bố:
“Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành Phật”.
Một hôm, thấy cơ duyên sắp về Tây, Ngài gọi các đệ tử ra trình kiến giải.
Ngài Đạo Phó bước ra đầu tiên, bạch: Theo chỗ thấy của con, chẳng chấp văn tự, cũng chẳng lìa văn tự, đây là dụng của đạo.
Tổ nói: Ngươi được phần da của ta.
Đến lượt bà Ni Tổng Trì ra thưa: Ngay chỗ hiểu của con giống như Tổ A Nan thấy được cõi Phật A Súc, chỉ thấy một lần, không còn thấy lại.
Tổ nói: Ngươi được phần thịt của ta.
Ngài Đạo Dục ra thưa: Năm ấm vốn không, tứ đại chẳng có, chỗ thấy của con không một pháp có thể được.
Tổ bảo: Ngươi được phần xương của ta.
Cuối cùng, đến Ngài Huệ Khả, Ngài bước ra đảnh lễ Tổ ba lễ rồi lui lại đứng yên lặng.
Tổ nói: Ngươi được phần tủy của ta.
Có nhiều người tu tập một thời gian thấy khinh an, ghi nhớ lại kinh nghiệm này để khi gặp Hòa thượng thì trình. Như vậy cũng tốt, nhưng thực ra cái trình ra đó dù cho đúng cũng là đem chuyện quá khứ ra nói lại mà ngay trong hiện tại thì quên mất mình.
Thiền sư Vô Môn tiếp: “Nói như vậy chẳng khác gì khi không dậy sóng, thịt da đang lành đem ra mổ xẻ, huống chi chấp vào văn tự để mong tìm lý giải, vơ dùi đập trăng, gãi ngứa ngoài giày, ăn nhằm chi đâu. Nếu có kẻ gan dạ không màng chi đến nguy vong, một đao vô thẳng thì Na Tra tám tay giữ lại không nổi, dù cho đến Tây Thiên hai mươi tám vị, Đông Độ sáu tổ cũng chỉ còn cách nép mình xin tha mạng. Còn chần chừ khác chi đứng trong nhà nhìn ngựa qua song cửa, vừa chớp mắt việc đã vù qua”.
Nếu chúng ta có những đức tính gan dạ của nhà Thiền như Tổ Huệ Khả chặt tay cầu pháp thì mới tu thiền được. Ngài Nam Tuyền nói người bước vào cửa thiền là bậc đại trượng phu, không phải là việc quan văn quan võ có thể tu được. Cổ đức cũng nói người vào cửa thiền phải là bậc long tượng chứ người thường không vào được. Nhưng tại sao chúng ta có nhân duyên, có đức tin tin tưởng vào thiền? Là bởi vì trong thời quá khứ chúng ta đã từng tu về pháp môn này. Những người không có căn duyên thì tu được một thời gian sẽ không tin, có khi lại xoay qua phỉ báng lại pháp môn này. Chúng ta nếu tu một thời gian mà không thấy gì hết thì phải biết là duyên đời này mình còn thiếu, phải chịu khó làm công quả để tích phước đức rồi mới tiếp tục.
Trong Kinh Bảo Tích cũng chỉ: “Không phải ai vào đạo cũng đi thẳng vào pháp này”. Có những người vào không được phải nấu cơm, chẻ củi, làm các việc cho chúng…. Còn bậc thượng căn dù cho không biết chữ cũng đi thẳng vào pháp môn này luôn, ví dụ như Lục Tổ Huệ Năng.
Chúng ta nếu đã đi thẳng vào pháp này phải dũng mãnh, gan dạ, không màng chi đến tính mạng, một đao đi thẳng không có chần chừ thì Na Tra tám tay ngăn mình cũng không được. Nhưng nhiều khi chúng ta không dám vào thẳng pháp môn này, chỉ thích tu cái gì khiến cho mình được khinh an, an ổn mà không hiểu được cái tịnh này đối lập với cái động. Còn cái gì biết được mình đang an ổn? Vẫn còn có ông chủ nhìn ra nhưng mình không chịu sống với ông chủ của mình. Pháp này có sức mạnh lớn nên các Ngài nói phải có hùng lực lớn, có bi nguyện, đại nguyện lớn, có đức tin lớn mới có thể mạnh dạn đi thẳng vào. Có vị Thiền sư nói: “Dù cho kiếp này không ngộ, lỡ có tạo nghiệp ác xuống địa ngục A Tỳ thì sau khi ra khỏi địa ngục, được gặp Bát Nhã, gặp pháp này để tu tiếp”.
Thế nên Ngài Vô Môn nói: “Đạo lớn không có cửa, ngàn sai có đường, cửa kia qua được thì đất trời nghiêng bước”.
Cửa kia là cửa gì? Muốn đi được vào cửa này trước tiên phải giải thoát tri kiến.
Trong Thiền thoại có kể, có một ông giáo sư đến gặp Thiền sư Na In để xin học thiền. Thiền sư rót trà mời ông, rót trà đầy tràn cả chén mà vẫn tiếp tục rót. Ông giáo sư thấy vậy nhắc thì Ngài nói: “Ông cũng giống như chén trà này, tri kiến đã đầy ắp làm sao tham? Ông phải uống cạn chén trà tri giải thì mới thâm nhập vào biển thiền được”. Thâm nhập vào thì không có năng sở, chủ khách, ta người. Tu một thời gian mà thấy còn chút gì thì trong nhà Thiền ví như con trâu đi qua cửa, sừng, đầu, mình đều lọt mà còn chút đuôi không lọt.
Tu một thời gian, quý vị có biết ông thầy cuối cùng của mình là ai không? Chính là mình. Ban đầu thì đến trình các vị thầy, một thời gian sau rồi tự trình với chính mình, tâm mình còn tham, còn sân mình đều biết hết.
Vào thời Tổ Ưu Ba Cúc Đa có một Tỳ kheo tên là Thiện Kiến, chứng tứ thiền nhưng lại nói là chứng A la hán. Tổ Ưu Ba Cúc Đa muốn khai thị cho ông nên làm hạn hán 12 năm, sau đó được lệnh nhà vua ban xuống làm mưa. Tổ Ưu Ba Cúc Đa nói mình làm mưa không được, nhưng đệ tử làm được. Tỳ kheo Thiện Kiến làm mưa xuống rồi khởi niệm “Thầy mình không làm được mà mình làm được”, vừa khởi niệm như vậy thì tức khắc giật mình vì chứng A la hán thì đâu có khởi niệm này, khởi niệm này thì biết mình chưa chứng A la hán nên đến Tổ xin sám hối. Tổ nói: “Ông mới chứng tứ thiền sao nói chứng A la hán? Nếu không gặp ta chắc ông sa đọa rồi”.
Như vậy, các Ngài có thể đưa mình vào con đường thẳng tắt này nhưng mình phải biết kiểm lại chính mình.
Một hôm Tướng quốc Đỗ Hồng Tiệm đến hỏi Thiền sư Vô Trụ: “Đệ tử tánh thức cạn cợt, trước đây nhân công việc rảnh rỗi, có soạn bộ sớ giải Luận Đại thừa khởi tín gồm hai quyển, có thể gọi là Phật pháp chăng?”
Thiền sư Vô Trụ đáp: “Xét về việc sớ giải đều là dùng thức tâm nghĩ xét phân biệt, có tạo tác, khởi tâm động niệm mới có thể làm thành theo lời văn bản luận đó nói. Phải biết tất cả pháp từ xưa đến nay lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng văn tự, lìa tướng tâm duyên, rốt ráo bình đẳng, không có đổi khác. Vì chỉ có một tâm nên gọi là chân như. Nay tướng công lại kẹt tướng ngôn thuyết, kẹt tướng văn tự, kẹt tướng tâm duyên. Đã kẹt các thứ tướng thì làm sao gọi là Phật pháp được?”.
Có lúc rảnh rỗi, chúng ta cũng soạn sách này sách kia, giống như con linh Quy xuống hồ để lại những dấu vết. Có người viết sách nhiều, tự cho mình là hơn nên sanh tâm ngã mạn với những bậc đi trước mà không biết, đấy là dính mắc trong tướng văn tự. Tuy nhiên ban đầu, chúng sanh phải nương tướng văn tự để biết, nhưng nếu cho đó là chỗ cứu kính rốt ráo thì bị kẹt.
Tướng quốc liền thưa: “Đệ tử đã hỏi các bậc Đại đức trong triều, các Ngài từng tán thán đệ tử, cho là việc này chẳng thể nghĩ bàn. Phải biết những vị ấy chỉ thuận theo nhân tình. Nay Thầy từ bi lý giải, nói phù hợp với pháp tâm địa, thật là chân lý không thể nghĩ bàn”.
Đến với các thiền sư, các Ngài chặt thẳng luôn. Chỉ có trong nhà thiền, các thiền sư có chỗ sống rồi mới mạnh miệng nói thẳng như vậy, còn ngoài ra ít ai dám nói vì sợ mất lòng. Thiền sư nói mạnh để cứu đương nhân nhưng trong tâm không có vị kỷ, không có nhân ngã, hơn thua mà chỉ muốn giúp cho hành giả đi lên, đưa thuốc đắng cho hành giả uống vì dính mắc tri kiến cũng là bệnh.
Có người đến hỏi về việc tại sao Hòa thượng xiển dương pháp của Nhị Tổ Huệ Khả, Lục Tổ Huệ Năng, Sơ Tổ Trúc Lâm mà còn kẹt trên hình tướng ngồi thiền một ngày ba thời? Người này đã học thiền rất nhiều, mà học nhiều thì ngã tăng trưởng. Câu trả lời không có gì khó. Giả sử nếu như người này ra đường, gặp cảnh gì đó hay người nào đó thật đẹp mà không sanh tâm ưa thích, ham muốn, hay nói cách khác là nếu tiếp xúc với trần cảnh mà không sanh tâm khởi niệm thì ngay đó Phật cũng không mà thiền cũng không. Còn nếu vẫn dấy khởi niệm thì một ngày ngồi 24 tiếng đồng hồ vẫn chưa đủ.
Cho nên ông thầy cuối cùng của mình chính là mình. Thầy đưa thuốc đắng cho uống, nếu thức tỉnh thì chuyển. Thuốc đắng thì hết bệnh nhưng cũng tùy trường hợp mà cho thuốc đắng. Có một người khác cũng hỏi tại sao ngày xưa Lục Tổ thấy ông Tăng ngồi thiền Ngài thổi phù mà giờ trong thiền viện bắt ngồi 3 thời, mỗi thời hai tiếng. Lục Tổ sở dĩ thổi phù vì ông tăng đó ngồi thiền từ 1 ngày đến 7 ngày, còn mình ngồi nửa tiếng muốn xả thì ai thổi? Nếu Lục Tổ còn có khi Ngài khuyến khích mình ngồi thêm nữa.
Sở dĩ bị như vậy là chúng ta còn bị kẹt vào tướng, chấp vào văn tự, dính mắc tri kiến. Cho nên đó cũng là bệnh của người tu thiền.
III. TRI KIẾN LÀ GÌ?
Tri kiến là cái thấy biết của mình. Ví dụ có một bông hoa, người nhìn đẹp thì thích, người nhìn thấy xấu thì không ưa. Hai cái đó đều là bệnh. Tu là để giải thoát khỏi hai cái tri kiến đó, cái thấy và cái bị thấy đồng thời có mặt, không có gì xen kẽ. Việc này không phải làm một ngày một giờ mà được.
Trong Ngũ đăng hội nguyên có ghi: Một hôm Thiền sư Quế Sâm, Trường Khánh và Bảo Phước cùng đi vào Châu Thành, thấy một đóa hoa mẫu đơn:
Bảo Phước nói: Một đóa hoa mẫu đơn rất là đẹp.
Trường Khánh bảo: Chớ để con mắt sanh hoa.
Quế Sâm nói: Đáng tiếc một đóa hoa.
Nhà thiền gọi đây là đất bằng dậy sóng, thịt da đang lành mà đem ra mổ xẻ.
Đây là nói cho người sau chứ các Ngài đã đi đến chỗ thực tại viên mãn thì thấy cảnh đẹp vẫn thấy cảnh đẹp, dừng tại đó chứ không thêm niệm thứ hai. Ban đầu, nếu chúng ta để con mắt sanh hoa thì sẽ có niệm thứ hai, niệm thứ ba sanh khởi.
Ngài Tô Đông Pha có làm bài kệ nhân chuyến viếng thăm Lô Sơn như sau:
“Lô Sơn chưng diện mục
Nhìn ngang thành dãy, xéo thành non
Cao thấp xa gần thảy chẳng đồng
Chẳng biết Lô Sơn mày mặt thật
Bởi tại núi này thân ở trong”.
Do cái thấy không đồng thuận sanh ra những kiến chấp sai lầm, tranh cãi nhau từ đó mà sanh ra. Các pháp cao, thấp không giống nhau là do cái thấy không đồng thuận. Các pháp vốn bình đẳng, nó không tự nói cao hay thấp mà pháp là như thị. Thấy được như thế rồi thì hết sanh chấp ngã. Người tu thiền cần phải đi tới chỗ đó, dần dần có được sức an định, tự tại. Phật tử tu một ngày chính là một ngày công đức. Lục Tổ dạy: “Bên ngoài hành lễ phép tức là công, bên trong khiêm hạ tức là đức”. Dù cho mình có nói như thiền sư nhưng đức tính khiêm hạ không có thì cũng không đi vào được con đường này. Bởi vì mình còn thấy cái này, cái kia nhưng các pháp là như thị, mà đã như thị đâu cần bàn cãi nhiều. Lục Tổ nói: “Người nào không đồng tri kiến với mình thì chắp tay xá rồi lui”.
Trong Thiền thoại có ghi, một hôm Ngài Đại Huệ Tông Cảo đang xem Kinh Kim Cang thì Thiền sư Chuẩn, tức Ngài Thạch Đường thấy, nói: “Pháp ấy là bình đẳng, không có cao, thấp. Vì sao trái núi ở Vân Cư cao mà trái núi ở Bảo Phong thấp? Vì sao nói nó là bình đẳng?”. Ngài Đại Huệ đáp: “Pháp ấy bình đẳng, không có cao thấp”. Đến chỗ đó rồi, niệm thứ nhất, thứ hai cũng không có, làm gì có cao thấp. Cao thấp là do mình phân biệt, chia chẻ, phân tích. Chỉ cần gạn rửa lớp bụi vô minh của mình thôi, ngoài ra không có chứng đắc gì, pháp ấy bình đẳng. Biết được như thế thì chính là pháp đốn ngộ, đi thẳng vào tâm.
Trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật dạy: “Tri kiến lập tri, tức vô minh bổn. Tri kiến vô kiến, tư tức Niết Bàn”, có nghĩa là cái thấy biết lập thêm cái thấy biết, đó là gốc của vô minh, thấy biết mà không lập thêm thì đó là Niết Bàn. Chẳng hạn thấy bình hoa là xong, ngay đó cắt đứt liền thì đó là Niết Bàn, là chỗ cứu kính rốt ráo. Nhưng mình không như thế, thấy rồi thêm, rồi lại thêm nữa, cứ thế một dọc như vậy. Quý vị nghiệm lại xem một ngày không biết bao nhiêu chuyện xảy ra, một ngày mình thêm biết bao nhiêu niệm, mà ngày cuối cùng mình ra đi, chính niệm khởi là cái dẫn mình đi, chính niệm khởi là đầu mối của sanh tử chứ không có gì lạ. Cho nên thiền là an trú trong giờ phút thực tại, dừng bớt niệm chính là dừng được đầu mối sanh tử. Chúng ta phải tu tập thiền định một thời gian mới nghiệm ra được, mới thấy được điều đó. Mà thấy được điều đó rồi thì nhà thiền gọi là chân chánh tu hành. Còn tu mà không thấy được điều này thì các Ngài nói là luống uổng công phu tu hành một đời. Cho nên Ngài Minh Chánh khẳng định:
“Hay lắm Thuần Đà, hay lắm Thuần Đà
Chẳng nói ngắn, chẳng nói dài
Ngắn dài, tốt xấu thảy đều sai
Tìm hay khéo bị người chê vụng
Bắn sẻ ai dè sói chực ngay.
Công danh cái thế màn sương sớm
Phú quý kinh nhân giấc mộng dài
Chẳng biết bản lai vô nhất vật
Công phu luống uổng một đời ai”.
Không có một lần bùng vỡ, cắt đứt hai đầu thì công phu cách mấy vẫn kẹt. Nếu có điều kiện, quý vị cố gắng sắp xếp khoảng 4-5 ngày để có thời gian một mình đối diện với chính mình thì mới thấy mình có rất nhiều niệm. Còn nhiều khi đi ra ngoài, chúng ta tưởng như không có niệm mà thực ra rất nhiều niệm, chỉ có lúc ở một mình mới nhận thấy được. Khi ác niệm sanh khởi, tăng trưởng, chúng ta hóa giải nó. Cho nên chỉ có nhờ đi trên con đường thiền này, chúng ta mới giải quyết được những nợ nần chất chứa trong nhiều kiếp. Chính bản thân chúng tôi cũng đã từng kinh qua chứ không phải nói suông. Điều này trong Kinh Phật cũng nói nhưng nếu chúng ta chưa một lần dấn thân vào thì không dám tin. Như Ngài Ương Quật Ma La đã từng giết rất nhiều người, nếu trả trên sự tướng thì biết bao giờ trả cho hết. Nghiệp do đâu mà có? Từ nơi tâm, do tâm bất giác của mình dấy khởi mà thành nghiệp. Cho nên chỉ có đi thẳng về con đường tâm này thì chúng ta mới chuyển nghiệp được, đó chính là chuyển nghiệp bằng tâm, chuyển nghiệp bằng niệm. Khi chúng ta dừng niệm, không theo, không tạo tác nữa thì chính đó là con đường đốn ngộ và con đường đó chính là Hành Trình Về Cõi Diệu Giác..
IV. GIẢI THOÁT TRI KIẾN
Các Thiền sư nói chúng ta đi con đường thiền này phải mạnh dạn giải thoát những cái thấy biết của mình, giải thoát chừng nào rơi rụng luôn, không còn một chỗ nào để bám được nữa.
Ngài Dược Sơn ở chỗ Thiền sư Mã Tổ ba năm. Một hôm Thiền sư Mã Tổ hỏi Ngài Dược Sơn: Ngày gần đây chỗ thấy của ông thế nào?
Ngài đáp: Da mỏng, da dày đồng thời rớt sạch, chỉ có một chân thật.
Các Ngài nói người tu thiền giống như rớt xuống vực thẳm, rớt xuống hầm, hầm toàn bằng sắt trơn, muốn leo lên không có chỗ mà bám. Hoặc tìm mọi cách để bám thì khi lên gần tới nơi lại bị rớt xuống một lần nữa. Lúc đó là ngộ, gọi là “tuyệt hậu tái tô”, nghĩa là một lần chết đi để ngàn năm sống lại, tức là sống lại trong thế giới tự tại của người đó. Lúc đó đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng…, làm gì cũng thiền hết. Có thể chúng ta tuy chưa được như vậy nhưng nếu có một lúc nào đó bất ngờ rớt vào cảnh giới này, dù chỉ là một chút xíu nhưng cũng đủ cho mình tin chắc rằng có pháp đốn ngộ. Cho nên các Ngài khẳng định đời này chưa xong, đời sau tiếp tục đi con đường này, ngoài ra không có con đường thứ hai.
Thiền sư Huyền Giác nói: “Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân”, tức đến chỗ tuyệt học vô vi mới là đạo nhân nhàn, thảnh thơi, dù ai nói gì cũng cười.
Trong Kinh Pháp Cú, câu 19, Phật dạy:
“Nếu người nói nhiều kinh
Không hành trì, phóng dật
Như kẻ chăn bò người
Không phần Sa môn hạnh.
Dù nói ít kinh điển
Nhưng hành pháp tùy pháp
Từ bỏ tham, sân, si
Tỉnh giác tâm giải thoát
Không chấp thủ hai đời
Dự phần Sa môn hạnh”.
Đức Phật đã dạy, dù cho chúng ta học hỏi nhiều nhưng phóng dật về niệm liên tục thì cũng giống như là kẻ chăn bò cho người, bò thì rất là nhiều nhưng không phải của mình, hay giống như người làm ở ngân hàng, hằng ngày đếm tiền rất nhiều nhưng lại không phải tiền của mình mà đếm cho người khác. Công phu tu tập của chúng ta cũng như thế. Dù nói ít kinh điển nhưng nếu chúng ta hành pháp, theo pháp, chuyển hóa tham sân si, không chấp thủ hai đời thì dự phần Sa môn hạnh.
Cũng trong Kinh Pháp Cú, Tôn giả Pothila là giáo thọ dạy cho 500 chúng Tỳ kheo đều đắc quả A la hán nhưng Ngài lại chưa chứng được thánh quả. Đức Phật thường gọi ông là “Pothila rỗng”. Mỗi lần Tôn giả đến, Đức Phật bảo Ngài A Nan: “Này A Nan, ông hãy mời ông sư rỗng vào đây”. Ngài biết Đức Phật nói vậy là để khuyến khích mình dự vào phần Sa môn hạnh chứ không phải nói móc hay chỉ trích. Cho nên sau đó Ngài rời đồ chúng đi vào rừng sâu tu tập. Ngài đến gặp các vị Tỳ kheo từng là học trò của mình để xin chỉ dạy pháp yếu, nhưng đến ai cũng nói “Ngài là một vị giảng sư, chúng tôi còn phải học với Ngài, làm sao có đủ tư cách dạy lại Ngài”. Cứ thế, không ai dám nhận lời dạy Ngài. Đến vị cuối cùng là một Sa di mới bảy tuổi, nhỏ nhất trong chúng thì kiêu khí của Pothila cũng tụt dần cho đến mức thấp nhấp. Ngài đến bên vị Sa di chắp tay cung kính xin được chỉ dạy. Vị Sa di này hỏi Ngài có đủ kiên nhẫn làm theo lời hướng dẫn không. Tôn giả Pothila đồng ý, nói thậm chí cả việc nhảy vào lửa cũng không ngại. Nghe thế, vị Sa di này nói ông hãy nhảy xuống nước. Để nguyên y phục, Tôn giả Pothila nhảy xuống nước, Sa di bảo leo lên, Ngài lại leo lên. Cứ thế nhảy xuống, leo lên như vậy bảy lần. Lúc này, sự chấp trước về những hiểu biết ngày xưa, sự chấp ngã vì làm giáo thọ cho 500 chúng rớt sạch không còn gì, Ngài ngồi xuống lắng nghe vị Sa di nhỏ tuổi chỉ dạy.
Quý vị thấy tại sao khi ở riêng mình không thấy gì mà khi vào chúng cái ngã hiện ra rất rõ, có những cái nhiều khi khiến chúng ta cảm thấy chới với, hụt hẫng luôn chứ không phải thường. Chẳng hạn như nếu đang là một vị giáo thọ trong tùng lâm thường xuyên dạy học cho chúng, đùng một cái bị cắt cử xuống nấu cơm cho chúng ăn, hoặc làm công việc đãi cát, đãi đá chứ không được dạy nữa. Lúc đó có dám ở lại không hay cái ngã đẩy mình đi liền? Nhưng trong giờ phút đó, nếu mình dấn thân vào con đường thiền này, quán chiếu thật sâu mà ở lại được thì ngay giờ phút đó chúng ta sẽ nghiệm được thiền, lúc này nghiệp báo oan gia nhiều đời nhiều kiếp của mình rơi rụng hết. Có những người ở ngoài đời là người tài giỏi, có chức vị cao, khi vào thiền viện phải làm những việc như hành đường, trị nhật, chẻ củi, nấu cơm, gặp nhiều chuyện phiền não nên không chịu được, sau một hai năm là ra ngoài, hoặc là cất cốc tu. Tuy ở một mình có an hơn nhưng cái ngã ngủ ngầm ở bên trong thì không thấy được. Quý vị để ý thấy ở bờ biển có những hòn đá rất đẹp, nhẵn, đó là nhờ những đợt sóng đánh vỗ hàng ngày. Nếu muốn khám phá được cái ngã sâu xa bên trong mình thì phải ở trong chúng một thời gian dài sẽ thấy, những người như vậy mà chịu tu thì có khi sau này trở thành bậc long tượng chứ không phải thường.
Lúc này, vị Sa di nói: “Nếu Ngài tin tôi rồi thì tôi chỉ cho một cách, ngày xưa ở nhà tôi thường chơi trò chơi: bắt một con dế vào một cái hộp có 6 cửa. Vì con dế hay chui ra các cửa nên tôi bít lại 5 cửa, chỉ để lại một cửa quan sát”. Sau khi nghe xong, với trình độ của Tôn giả thì hiểu ngay là phải quán sát sáu căn, năm căn đóng lại và tập trung trọng tâm vào ý căn. Tôn giả Pothila ngồi lắng lại, quán sát bao nhiêu ý niệm vận hành để chuyển hóa. Lúc này Đức Thế Tôn mới xuất hiện trước mặt ông để đọc bài kệ:
“Tu thiền trí huệ sanh
Bỏ thiền trí huệ diệt
Biết con đường hai ngả
Đưa đến hữu, phi hữu”.
Nghe xong bài kệ này, Ngài Pothila liền chứng quả A la hán.
Qua câu chuyện này, Đức Phật đã cho chúng ta thấy rằng, có những lúc mình phải cho những văn tự, những cái học hiểu của mình rơi rụng hết, không còn chỗ bám. Đó gọi là “tuyệt hậu tái tô”.
Thật là:
Anh hãy chết đi!
Để ngàn năm sống lại
Dẫu một lần thôi!
Cũng là hạnh phúc thiên thu.
Cho nên thiền sư Triệu Châu nói: “Ông già tám mươi tuổi chưa biết thì tôi dạy, mà đứa con nít ba tuổi biết thì tôi học”.
Có một câu chuyện như sau: Có một học giả đi nhờ trên một con tàu qua biển. Vì đi lâu nên học giả tranh thủ nói chuyện với người thủy thủ trên tàu:
- Ông đi thuyền đã bao lâu rồi?
- Ba chục năm.
- Ông đã từng học về chiêm tinh học chưa?
- Chưa từng.
- Đi biển mà không học chiêm tinh học, như vậy là ông chết mất một phần ba đời người rồi.
- Học giả hỏi tiếp: Ông học thiên văn học chưa?
- Cũng chưa.
- Ông chết một phần tư đời người.
- Học giả hỏi thêm: Ông đã học địa lý học chưa?
- Cũng chưa.
- Học hải dương học chưa?
- Chưa.
- Vậy là ông chết nửa đời người.
Một lúc sau, sóng gió bất ngờ nổi lên làm thuyền nghiêng ngả. Người thủy thủ quay lại hỏi học giả:
- Ngài đã học môn bơi lội học chưa?
- Chưa.
- Vậy là Ngài chết cả đời người rồi.
Qua câu chuyện này cho thấy, không phải các Ngài phế bỏ văn tự mà văn tự chỉ giống như ngón tay chỉ mặt trăng thôi, nhưng nếu chúng ta chấp vào đó mà không tu tập, không chuyển hóa thì giống như vị học giả này, học rất giỏi, cái gì cũng biết nhưng cái quan trọng nhất cho mình để dùng vào lúc cần thiết nhất thì không biết. Ở đây, các Ngài nhắm cho mình cái đích là phải buông xả hết những chấp trước, những tri kiến thì mới đi thẳng vào con đường này. Cho nên Thiền sư Quy Sơn dạy: “Nếu hướng ra ngoài được một tri, một giải cho đó là thiền, là đạo thì không dính dáng chút nào, đó gọi là mang phẩn vào tâm. Nó làm nhơ uế đất tâm của ông, vì thế nó chẳng phải là đạo”.
Thiền là học tất cả các pháp nhưng không chấp, không trụ, người hành giả phải gạn lọc hết những tâm tham, chấp trước của mình, lời của Phật dù hay cũng phải buông luôn.
Do đó Thiền sư Vô Môn Quan dạy tiếp: “Tham thiền phải lọt qua cửa Tổ, diệu ngộ phải dứt tuyệt đường tâm. Cửa Tổ không lọt, đường tâm không dứt thì cũng như bóng ma nương nhờ vào cây cỏ”.
Điểm này là chỗ chúng ta phải suy nghĩ, con đường thiền là con đường có gì đó làm cho người hành giả phải khắc khoải, sống chết tìm cho ra. Đó chính là người có căn duyên với thiền, còn nếu tu mà lớt phớt, sao cũng được thì không phải. Muốn bước vào con đường thiền này phải dấn thân vào để đi chứ nó không nằm trong văn tự, chữ nghĩa.
Thiền sư nói tiếp: “Thử hỏi cửa Tổ là gì? Chỉ một chữ Không chính là cửa ấy. Bàn gọi là Vô Môn Quan của thiền tông vậy. Qua được cửa ấy chẳng những thấy được Triệu Châu mà còn cùng các Tổ xưa nay nắm tay chung bước, thâm sâu giao kết, cùng một mắt mà thấy, một tai mà nghe, há chẳng thú sao? Há chẳng ai muốn qua cửa ấy?”
Chẳng lẽ tu mà mình không muốn lọt qua cửa ấy sao? Ai cũng mong muốn lọt qua cửa ấy hết. Nhưng cửa ấy là cửa gì? Quý vị thử nghiệm xem. Chính cửa này không biết bao nhiêu người tán thân mất mạng để mong tìm được.
“Muốn được như thế thì phải tận dụng ba trăm sáu mươi xương cốt, tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông, vận dụng cả thân tâm khởi thành một khối nghi, tham thẳng chữ Không, ngày đêm nghiền ngẫm. Chớ nên cho Không là Không theo nghĩa trống rỗng, chớ nên cho Không là Không theo nghĩa có. Không này giống như nuốt một hòn sắt nóng, muốn nhả ra mà nhả không ra, bỏ hết cái biết tệ hại trước kia, lâu ngày thành thuần thục, tự nhiên trong ngoài thành một khối, như kẻ câm nằm mộng chỉ một mình mình biết”.
Cảnh giới của người tu thiền cũng như thế, đồng kiến đồng hành mới trình ra, còn ngoài ra không ai biết.
“Bỗng nhiên bộc phát trời kinh đất chuyển, như đọt vào tay thanh đại đao của Quan Vũ, gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, dửng dưng với bờ sanh tử, rong chơi chốn lục đạo”.
Chúng ta tu đến một lúc nào đó, có một điểm bộc phát trời kinh đất chuyển. Đó mới là chỗ cần phải đến. Có người đến nói ngồi thiền được khinh an, an ổn, đó chỉ là bờ mé sanh tử, không dính dáng gì hết để mà sanh tâm tự đắc. Dù cho chúng ta có nhìn thấy được ba kiếp, mười kiếp, một trăm hay một tiểu kiếp về trước cũng không dính dáng gì đến chỗ này. Đó là tướng sanh diệt, tướng vô thường thì nằm trong khổ, không, vô ngã. Nếu chấp vào tướng đó cho là hay rồi tự đắc, coi thường những bậc tôn túc thì quý vị lầm. Kể cả người xuất gia nếu không chịu đi sâu vào chỗ này cũng lầm rất nhiều, thành ra nhầm cả về pháp tu luôn.
“Như đọt được vào tay thanh đại đao của Quan Công, gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ”, tức là có những lúc ngồi thiền yên định chúng ta cũng phải vượt luôn. Mà có những lúc náo động cũng không sợ, bao nhiêu niệm cũng không sợ, chỉ nhớ cái thấy biết chân chính của mình. Niệm khởi lên tự tiêu, tự chuyển hóa nên trong giờ phút thực tại, các Ngài không sợ niệm khởi mà chỉ sợ giác chậm. Chính niệm đó tạo nên năng lực hùng hậu của người hành Bồ Tát đạo, cho nên các Ngài không phá hành niệm mà lấy hành niệm làm chủng trí Bát Nhã. Vượt qua hai cửa ải này rồi thì cái gì cũng đi qua hết, dửng dưng với bờ sanh tử, rong chơi trong chốn lục đạo.
Thiền sư Lâm Tế dạy: “Thực hành công phu bên ngoài thảy đều là kẻ ngu si, các ông hãy tùy thời làm chủ, ngay đó đều là chơn, cảnh đến lôi kéo chẳng được, dầu có tập khí địa ngục vô gián cũng tự chuyển thành biển lớn giải thoát”.
Thực hành công phu bên ngoài là có gì đắp vào, giống như có một người đem đến tặng quý vị một hòn đá thì giỏi lắm về mình đặt trên bàn chơi hoặc để giữ cửa, nhưng với con mắt của một nhà điêu khắc tài ba thì nhìn thấy trong hòn đá đó có hình ông Phật ngồi, muốn ông Phật này hiển lộ thì phải đẽo, gọt hòn đá. Còn nếu chúng ta mua xi măng, bột đá đắp vào hòn đá để ông Phật hiển lộ thì Tổ nói đây là người ngu si, giống như người chấp trước vào những văn tự, hiểu biết, đắp thêm những cái đó vào thì ông Phật của mình không bao giờ hiển lộ. Chính điểm này quý Phật tử ngồi thiền nghiệm lại sẽ thấy, lúc mình đang ngồi thiền chính là lúc mình đang là một nhà điêu khắc tài ba, gọt giũa những tâm niệm xấu ác. Niệm tham, niệm sân, niệm si, niệm tật đố, bao nhiêu niệm khởi lên đều rớt hết thì ông Phật trong tự tánh mình hiển lộ ra. Đức Phật thấy trong thân ngũ uẩn của chúng sanh có ông Phật nên chỉ cho mình. Nhưng nếu một tuần chúng ta đến đây hai ngày, gọt giũa được 10 ký mà về nhà không chịu dụng công, lại đắp thêm vào 20 ký nữa vào nữa thì mình lỗ bao nhiêu ký? Cho nên chúng sanh vẫn hoàn chúng sanh, lại quay ra nói pháp này không có kết quả, tu lâu năm mà cũng như thế, là bởi vì mình đến chùa thì gọt giũa nhưng về nhà lại đắp thêm vào. Cho nên pháp này rất là vi diệu nhưng đòi hỏi chúng ta phải “tùy thời làm chủ, ngay đó đều là chơn”, tức là luôn luôn có ông chủ. Đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, luôn luôn có chánh niệm tỉnh giác thì đó gọi là chơn. Cảnh đến lôi kéo chẳng được thì dù tập khí địa ngục vô gián cũng chuyển thành biển lớn giải thoát. Ngày xưa quý vị đã tạo những nghiệp xấu ác rất lớn, ngày này, giờ này đáng lẽ phải trả như đi ra ngoài đường bị tai nạn chết, nhưng nếu lúc đó đang tụng kinh thì làm sao chết? Tuy không chết nhưng ngay lúc tụng kinh đó, những niệm xấu ác hiện khởi, tụng kinh mà không chú tâm vào tụng kinh, nó day dứt, khó chịu, bồn chồn như là mình đang ở cảnh giới địa ngục chứ không phải là biển giải thoát. Nếu ngay trong giờ phút thực tại đó, cái gì thấy được những niệm này thì tức khắc chuyển thành biển lớn giải thoát. Niệm này không lôi kéo quý Phật tử và ngay giờ phút thực tại này giữa mình và niệm không còn, đó là chuyển từ nghiệp xấu thành nghiệp tốt, chuyển nghiệp địa ngục thành biển lớn giải thoát. Ai có công phu tu thiền mới kinh nghiệm điều này. Chẳng hạn như khi cùng ngồi thiền, người bạn của mình ngồi rất an ổn, khinh an, còn mình ngồi thì giống như ngồi trên đống lửa, nhưng nếu mình xả bỏ ra mà đi thì giống như là nợ đến mà mình không chịu trả. Cho nên chỉ có con đường thiền này mới trả nhanh được. Giống như ngày xưa quý vị nợ nhiều thì bây giờ có cách gì trả nhanh? Chỉ có làm giám đốc, bác sĩ kiếm nhiều tiền hơn mới trả nhanh được, còn nếu làm nhân viên bình thường thì trả chậm hơn. Phương pháp tu thiền cũng như thế. Bố thí, cúng dường chỉ là phương tiện trợ duyên thôi chứ không chuyển được nghiệp, chỉ có tu chúng ta mới chuyển được nghiệp.
Trong chuyện Tây Tạng có ghi: Có một ông Tăng nghe nói có một tu viện rất linh thiêng, cho nên ông đến đó, buổi sáng nhiễu vòng quanh tu viện 108 lần. Một hôm, Hòa thượng viện trưởng gặp ông, nói: “Thực ra con đi nhiễu quanh một thánh địa linh thiêng như vậy cũng tốt, nhưng nếu muốn tốt hơn nữa thì con nên tu học về yếu tính của Phật pháp”. Sau khi nghe như vậy, ông không đi nhiễu nữa mà chuyên đọc tụng kinh điển để thâm nhập vào biển lớn trí tuệ của Phật. Một thời gian, gặp Hòa thượng viện trưởng, Ngài lại nói: “Đọc tụng kinh điển cũng rất tốt, nhưng nếu hay hơn nữa thì tu học về Phật pháp bao trùm rộng lớn, chứng nghiệm về Pháp thân của Phật”. Nghe nói vậy, ông ngưng việc đọc tụng và chuyển qua con đường thiền định, ngồi ngày, ngồi đêm. Một hôm, gặp Hòa thượng nói tiếp: “Con đang thiền định đó ư? Cũng tốt, cũng hay đó nhưng tu tập cho đúng Phật pháp đích thực thì còn tốt hơn nữa”.
Tức là từ lúc đi nhiễu là chúng ta bước vào con đường Phật pháp, có đức tin vào Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng. Cái đó là tốt nhưng chúng ta phải đi thêm một bước nữa là học hỏi Phật pháp, để xem Đức Phật nói gì. Tốt đó, nhưng nếu không tu tập về con đường thiền định thì không chứng nghiệm được lời Phật dạy. Ngồi thiền cũng rất tốt, nhưng tu tập cho đúng con đường Phật pháp đích thực thì tốt hơn.
Vị Tăng nghe xong, hỏi: “Thưa Thầy, giờ con phải làm gì?”
Hòa thượng viện trưởng đáp: “À, con hãy buông bỏ hết những gì mà con đang bám giữ, lúc đó con chính là con và cái đơn giản này chính là chỗ khởi đầu mà cũng chính là mục đích rốt ráo cuối cùng của nhà thiền”.
Ngồi mà không dính mắc, không chấp trước, không trụ thì chính chỗ đó là chúng ta tu tập về con đường thiền.
Có người hỏi: Ngồi thiền là gì? Ngồi thiền chỉ là ngồi thiền thôi, không thêm bớt gì.
Trong thiền thoại có ghi một câu chuyện: Một hôm có một người đang đứng trên núi. Có một tốp người đi ngang qua.
Người thứ nhất hỏi: Có phải anh đứng để ngắm núi không?.
- Không phải.
Người thứ hai hỏi: Có phải anh đang đứng tìm cái gì phải không?.
- Không phải.
Người thứ ba hỏi: Có phải anh đứng trên núi đợi ai phải không?
- Cũng không phải.
Tất cả bọn họ thấy lạ bèn hỏi: Anh không ngắm núi, không tìm cái gì, không đợi ai, vậy đứng trên núi làm gì?
Anh này trả lời: Tôi đứng đây chỉ là đứng thôi.
Nhiều khi mình nghĩ người ta làm bất cứ cái gì phải có mục đích, đứng phải ngắm trăng, ngắm núi chứ đứng không thì đứng làm gì? Nhưng đối với tinh thần nhà thiền, đứng chỉ là đứng, ngồi thiền chỉ là ngồi thiền. Còn ngồi thiền để ngộ, để chứng cái gì đó là có tâm để ngộ, mà có tâm để ngộ chính là bệnh. Cho nên cuối cùng, để đi vào được con đường thiền này, chúng ta phải giải thoát tất cả mọi tri kiến.
Cuối cùng, kính chúc quý Phật tử luôn giữ được tâm kiên trì, trường viễn, dấn thân vào con đường này cho đến ngày thành Phật, tròn bản nguyện, tin chắc vào pháp đốn ngộ, tin chắc vào tự tâm để chuyển hóa những nghiệp xấu ác của mình. Tin chắc được điều đó bảo đảm quý vị sẽ thành công.
Nam mô Phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.3/4/2015.
Thursday, 2 April 2015
1.
Ý NGHĨA VÀ DUYÊN KHỞI
Ở kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn là nói về Hạnh môn Pháp Hoa của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Phổ Môn, tiếng Phạn là Samantamukha. Samanta là phổ biến, cùng khắp. Mukha là cửa ngõ. Ngài La Thập, Trúc Pháp Hộ và Xà Na Quật Đa, đều dịch Samantamukha là Phổ Môn.
Phổ Môn nghĩa là cửa ngõ cùng khắp mọi nơi. Và là cửa ngõ giúp ta đi vào mười như thị của mọi sự hiện hữu, để thấy rõ bất cứ sự hiện hữu nào cũng có mười như thị, gồm: Tướng như thị, tính như thị, thể như thị, lực như thị, tác như thị, nhân như thị, duyên như thị, quả như thị, báo như thị, bản mạt cứu cánh như thị1. Phổ Môn là cánh cửa giúp ta đi vào thực tại, đi vào thực tướng của mọi sự hiện hữu qua mười như thị ấy.
Lại nữa, Phổ có nghĩa là cùng khắp; Môn là môi trường. Phổ Môn là môi trường hoạt động cùng khắp của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Bồ Tát Quán Thế Âm không phải chỉ hoạt động từ bi để diễn thuyết và hoằng truyền kinh Pháp Hoa ở trong cửa ngõ vào và ra của nhân thiên hay môi trường của nhân thiên, mà còn diễn thuyết và hoằng truyền kinh Pháp Hoa cùng một lúc khắp cả mười phương pháp giới. Trong đó có Lục Phàm và Tứ Thánh.
* Lục Phàm:
1.Thế giới của Địa Ngục: Trong thế giới địa ngục cũng có vô số thế giới, vô số nhân duyên nghiệp quả, chứ không phải chỉ là một thế giới hay là một nhân duyên nghiệp quả. Và mọi sự hiện hữu ở trong thế giới của Địa ngục, mỗi sự hiện hữu đều có đầy đủ cả mười như thị.
2.Thế giới của Ngạ Quỷ: Trong thế giới của ngạ quỷ cũng có vô số thế giới, vô số nhân duyên nghiệp quả, chứ không phải chỉ là một nhân duyên nghiệp quả. Và mọi hiện hữu ở trong thế giới của Ngạ quỷ, mỗi sự hiện hữu đều có đầy đủ cả mười như thị.
3.Thế giới của Súc Sanh: Trong thế giới súc sanh cũng vậy, chúng cũng có vô số thế giới, vô số nhân duyên nghiệp quả, không có nhân duyên nghiệp quả của chủng loại súc sanh nào giống chủng loại súc sanh nào, nghĩa là có vô số thế giới của súc sanh. Và mọi hiện hữu ở trong thế giới của súc sanh, mỗi sự hiện hữu đều có đầy đủ cả mười như thị.
4 Thế giới của loài A Tu La: Trong thế giới của các loài quỷ thần nầy, họ cũng có vô số thế giới, vô số nhân duyên nghiệp quả. Và mọi hiện hữu ở trong thế giới của A Tu La, mỗi sự hiện hữu đều có đầy đủ cả mười như thị.
5.Thế giới của loài người: Trong thế giới của loài người cũng có vô số thế giới, vô số nhân duyên nghiệp quả, không có nhân duyên nghiệp quả của người nào giống người nào, ngay cả trong một dòng dõi huyết thống, nhân duyên nghiệp quả của mỗi người cũng không ai giống ai, mỗi người là mỗi thế giới của nhân duyên nghiệp quả. Và mọi sự hiện hữu ở trong thế giới loài người, mỗi sự hiện hữu cũng đều có đầy đủ cả mười như thị.
6.Thế giới của chư Thiên: Trong thế giới của chư Thiên cũng có vô số thế giới, vô số nhân duyên nghiệp quả khác nhau. Chư Thiên Dục giới không những nhân duyên nghiệp quả không đồng với chư Thiên các cõi trời Sắc giới và Vô sắc giới đã đành, mà ngay nhân duyên nghiệp quả ở nơi các cõi trời Dục giới, họ cũng không đồng nhau, và ngay nơi chư Thiên của Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới, nhân duyên nghiệp quả tự thân của mỗi vị cũng không đồng nhau. Tự thân của mỗi thiên, mỗi nhân là mỗi thế giới. Và mọi sự hiện hữu ở trong thế giới của chư thiên, mỗi sự hiện hữu đều có đầy đủ cả mười như thị.
* Tứ Thánh:
1.Thế giới của các Thánh giả Thanh Văn: Mỗi Ngài lãnh hội Tứ Thánh Đế mỗi cách tùy theo nhân duyên nghe pháp, nhân duyên tri Khổ, đoạn Tập, chứng Diệt, tu Đạo của mỗi vị. Nhân và Pháp ở trong thế giới của các Thánh giả Thanh Văn, mỗi nhân và mỗi pháp cũng đều có đầy đủ cả mười như thị.
2. Thế giới của các Thánh giả Duyên Giác: Mỗi Ngài lãnh hội lưu chuyển và hoàn diệt của giáo lý Mười hai duyên khởi mỗi cách, cũng tùy theo nhân duyên thiền quán sâu cạn của mỗi vị. Nên, mỗi vị cũng là mỗi thế giới tu chứng. Và Nhân cũng như Pháp ở trong thế giới của các Bậc Thánh giả Duyên Giác, mỗi nhân và mỗi pháp cũng đều có đầy đủ cả mười như thị.
3. Thế giới của Bồ Tát: Mỗi Ngài tùy theo năng lượng của Bồ đề tâm mà phát khởi hạnh nguyện và tùy theo hạnh nguyện mà tạo thành cách hành động và cảnh giới của mình. Và Nhân cũng như Pháp ở trong thế giới của Bồ Tát, mỗi nhân và pháp cũng đều có đầy đủ cả mười như thị.
4. Thế giới của chư Phật: Cũng vậy, khi hành Bồ Tát đạo, tùy theo hạnh nguyện tu tập của mỗi Ngài, mà tạo thành cảnh giới tương ứng để giáo hóa. Và trong thế giới của chư phật, mỗi sự hiện hữu cũng có đầy đủ cả mười như thị.
Do đó, trong mỗi pháp giới có nhiều thế giới, cho đến có vô số thế giới. Và trong tự thân nhân duyên của mỗi loài, hay của mọi sự hiện hữu đều có đầy đủ mười như thị, và trong mỗi pháp giới đều có đầy đủ cả Thập pháp giới.
Nên, nói Thập pháp giới là nói tổng quát, và nói chi tiết thì phải nói có vô số pháp giới hay vô số thế giới.
Vậy, Phổ Môn là pháp hạnh của Bồ Tát Quán Thế Âm, pháp hạnh ấy là cùng một lúc mà có mặt cả toàn thể pháp giới, cả mười pháp giới và cả vô số thế giới để đem hạnh không sợ hãi mà hiến tặng cho tất cả Phàm Thánh, và diễn thuyết Pháp Hoa cho tất cả sinh loại Thánh, Phàm cùng khắp hết thảy pháp giới trong mười phương. Đối với Lục phàm Bồ Tát Quán Thế Âm diễn giảng Kinh Pháp Hoa, khiến cho họ tu tập không còn sợ hãi đối với những khổ đau do “Phân đoạn sinh tử đem lại” mà khởi tâm Bồ Đề hướng tới Nhất Thừa Đạo. Và đối với các Thánh giả, Bồ Tát Quán Thế Âm diễn giảng Kinh Pháp Hoa, khiến cho các Thánh không còn khởi tâm sợ hãi đối với khổ đau do “Biến dịch sinh tử đem lại”, sẵn sàng buông bỏ các địa vị tu chứng có tính cách tạm thời mà vững tâm tiến về Nhất Thừa Phật Đạo.
Đối với ai chưa mở được Phật tri kiến, thì Bồ Tát thuyết pháp một cách thích ứng để cho họ mở Phật tri kiến, đối với ai chưa thấy Phật tri kiến, thì Bồ Tát thuyết pháp một cách thích ứng cho họ, để chỉ bày Phật tri kiến cho họ. Đối với ai chưa giác ngộ phật tri kiến, thì Bồ Tát thuyết pháp một cách thích ứng để giác ngộ Phật tri kiến cho họ và đối với ai chưa thể nhập Phật tri kiến, thì Bồ Tát hóa thân thuyết pháp một cách thích hợp để cho họ thể nhập hoàn toàn Phật tri kiến.
Và, nếu đối với ai không có khả năng để tin rằng, tự thân mình có Phật tính và hết thảy chúng sanh đều có Phật tính; và đều có khả năng thành Phật, thì đối với hạnh Phổ môn, Bồ Tát Quán Thế Âm có thể biểu hiện thân thể và thuyết pháp một cách thích ứng, khiến cho họ sinh khởi đức tin rằng: “Ta và hết thảy chúng sanh đều có Phật tính, và tất cả đều có khả năng thành Phật”.
Nếu có bao nhiêu người cùng một lúc chưa có đức tin nầy, thì Bồ Tát biểu hiện có bấy nhiêu thân thể cùng một lúc, thích ứng để thuyết pháp, khiến cho tất cả họ, đều cùng một lúc sinh khởi đức tin ấy.
Nên, Phổ môn là pháp hành của Bồ Tát Quán Thế Âm và Bồ Tát Quán Thế Âm là người đang thực hành pháp môn phổ môn ấy.
Đối với kinh Pháp Hoa, Bồ Tát Dược Vương là tiêu biểu cho hạnh môn về khổ hạnh và nhấn mạnh đến thân hành thanh tịnh và đốt thân thanh tịnh để cúng dường Phật và pháp, nên DượcVương Bồ Tát là tiêu biểu cho vị Bồ Tát bố thí thân một cách tuyệt đối.
Bồ Tát Diệu Âm đối với hạnh môn Pháp Hoa là tiêu biểu cho ngữ hành thanh tịnh và đem ngữ hành thanh tịnh ấy mà phụng sự chánh pháp, nên Bồ Tát Diệu Âm là tiêu biểu cho vị Bồ Tát bố thí pháp một cách tuyệt đối.
Và Bồ Tát Quán Thế Âm đối với kinh Pháp Hoa là vị Bồ Tát tiêu biểu cho ý hành thanh tịnh và đem ý hành thanh tịnh ấy mà phụng sự chánh pháp. Nên, Bồ Tát Quán Thế Âm là tiêu biểu cho vị Bồ Tát bố thí nghị lực, bố thí ý chí hay bố thí sự không sợ hãi một cách tuyệt đối.
Theo kinh Bi Hoa, trong thời kỳ quá khứ, có thế giới tên là Tán Đề Lam, thuộc kiếp Thiện Trì, bấy giờ có Phật ra đời hiệu là Bảo Tạng, có vị Thái tử của vua Vô Lượng Tịnh, phát Bồ đề tâm cúng dường Phật và Tăng tỷ khưu ba tháng và phát nguyện, nếu có chúng sanh nào đang chịu khổ não trong ba ác đạo, họ liền nghĩ đến tôi, xưng niệm danh hiệu của tôi, tôi sẽ dùng thiên nhĩ nghe âm thanh của họ, dùng thiên nhãn thấy họ mà họ không thoát khỏi khổ đau, tôi nguyện không thành tựu đạo quả Vô Thượng Bồ Đề.
Bấy giờ, Đức Phật Bảo Tạng bảo với vị Thái tử ấy rằng: “Người nhìn hết thảy chúng sanh là vì muốn đoạn trừ hết thảy khổ đau cho họ, nên nay danh hiệu của Người là Quán Thế Âm”. Và Thái tử tức là Bồ Tát Quán Thế Âm đã được Đức Phật Bảo Tạng thọ ký thành phật trong tương lai với bài kệ:
“Đại Bi công đức
kim ưng hoàn khởi
địa lục chấn động
cập chư phật giới.
Thập phương chư phật
dĩ thọ nhữ ký
đương thành vi phật
cố ưng hoan hỷ”.2
Nghĩa là:
Công đức đại bi
nay, nên khởi lại
đất sáu chấn động
cùng các cõi phật.
Các phật mười phương
thọ ký cho ngươi
tương lai làm phật
nên, hãy vui lên.
Và ở trong Đại Bi kinh: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói với Bồ Tát Tổng Trì Vương rằng: “Bồ Tát Quán Thế Âm từ vô lượng kiếp đã thành tựu tâm đại từ, đại bi, có khả năng thực hành vô lượng pháp môn, nắm giữ hết thảy thiện pháp một cách thông minh. Vì muốn làm cho hết thảy chúng sanh an lạc, nên mật phóng ra sức mạnh của thần thông vĩ đại”. Và Bồ Tát Quán Thế Âm cũng đã thưa với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni rằng: “Thần chú Đai Bi nầy, từ vô lượng kiếp về trước, con đã được Đức Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trú trao truyền và dạy con rằng: Ngươi hãy hành trì tâm chú nầy, để làm đại lợi ích cho khắp hết thảy chúng sanh vào đời ác trược trong tương lai”. Và cũng ở trong kinh nầy, Đức Phật Thích Ca đã nói với Tôn giả A Nan và đại chúng lúc bấy giờ ở Núi Phổ Đà rằng: “Oai lực của Bồ Tát Quán Thế Âm là không thể nghĩ bàn, ở vô lượng kiếp trong quá khứ vị Bồ Tát nầy đã làm Phật hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai, vì muốn phát khởi nguyện lực đại bi cho hết thảy Bồ Tát và vì muốn thành thục sự an lạc cho hết thảy chúng sanh mà hiện thân làm vị Bồ Tát vậy”.3
Nhưng, ở trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn nầy, Bồ Tát Vô Tận Ý đã thưa hỏi đức Phật Thích Ca rằng: “Bồ Tát Quán Thế Âm, vì do nhân duyên gì gọi là Quán Thế Âm?”.
Đức Phật Thích Ca đã trả lời cho Bồ Tát Vô Tận Ý như sau:
“Hỡi Thiện Nam Tử! Nếu có vô số chúng sanh, bị nhận lấy mọi sự đau khổ, họ nghe nói đến Bồ Tát Quán Thế Âm, liền hết lòng xưng niệm danh hiệu của Ngài, ngay lúc đó, Ngài nghe thấy âm thanh của họ và họ liền được giải thoát”.4
Đây là sự giải thích của đức Phật Thích Ca cho Bồ Tát Vô Tận Ý về ý nghĩa Bồ Tát Quán Thế Âm và duyên khởi phẩm Phổ Môn nầy, cũng chính do Bồ Tát Vô Tận Ý thưa hỏi, và nhân đó, đức Phật đã giải thích danh hiệu, cũng như hạnh môn của Bồ Tát Quán Thế Âm cho đại chúng nghe. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.3/4/2015.
Subscribe to:
Posts (Atom)