Friday, 7 March 2014

Mười chuẩn mực đạo đức cơ bản của Phật giáo.


 - Đạo đức Phật giáo y cứ vào giới luật. Nếu xem giới luật là những nguyên tắc đạo đức mang tính bền vững, ổn định, không thay đổi, thì yêu cầu từ thực tiễn đời sống đòi hỏi cần có sự bổ sung những chuẩn mực đạo đức mang tính hỗ tương. Những chuẩn mực đạo đức bổ sung đó, theo sự phân định của một số bộ luật Phật giáo, thì đôi khi được xem là giới không quan trọng (khinh giới), có lúc được xem là những phép ứng xử (học pháp) giữa người với người.

Từ thực tiễn đời sống, để đạo đức Phật giáo dễ dàng lan tỏa, thì việc làm sáng tỏ những chuẩn mực đạo đức Phật giáo là yêu cầu bức thiết. Trong vô vàn những chuẩn mực đạo đức Phật giáo được thể hiện rải rác trong các bộ kinh, luật, luận, sớ giải… người viết tạm thời đề xuất mười chuẩn mực đạo đức cơ bản. Đó là: khiêm hạ, tàm quý, trung thực, kiên định, không phóng dật, nhẫn nhục, biết ơn, buông xả, dấn thân tiết tháo.
1. Khiêm hạ
Trước hết, khiêm hạ là một hành xử đạo đức vắng bóng tự ngã, dẹp tan kiêu mạn. Kiêu mạn là một tập khí sâu dày của chúng sanh nói chung. Kinh Tăng chi nêu ra ba thứ kiêu mạn căn bản(1). Theo kinh Tập, khi cái tôi nhỏ lại thì mọi sự va chạm do kiêu mạn ít xảy ra: Ai phá hoại kiêu mạn/ Không còn chút dư tàn/ Như nước mạnh tàn phá/ Cây cỏ lau yếu hèn(2). Và theo Đức Phật, chỉ những ai chinh phục được tự ngã thì mới có thể nhiếp phục lòng kiêu mạn. Câu chuyện khoác lác của chàng thanh niên Saccaka khi dõng dạc tuyên bố: Dầu ta có đối thoại với một cột trụ vô tình, cột trụ ấy khi đối thoại với ta cũng run sợ, cũng hoảng sợ, cũng khiếp sợ, huống nữa là một người thường(3). Sau khi được Phật thuyết giảng, thanh niên Saccaka đã nhận ra sai lầm và biết cách ứng xử khiêm hạ với Đức Phật và chúng Tỳ-kheo. Chuyện tiền thân Đức Phật  số 125 cũng đề cập câu chuyện khoác lác tương tự, nhưng nhân thân là một vì Tỳ-kheo(4).
Thứ hai, khiêm hạ là thể hiện sự tôn trọng kẻ dưới và kính nhường người trên. Biết tôn trọng lẫn nhau trong giao tiếp, ứng xử là sự thể hiện đẳng cấp đạo đức. Từ câu chuyện ứng xử tôn trọng lẫn nhau giữa chim đa đa, khỉ và voi(5), Đức Phật đã dạy các thầy Tỳ-kheo: Những người rành rẽ Pháp/ Tôn kính bậc cao niên/ Kiếp này được khen ngợi/ kiếp sau sanh về Trời(6). Trong những hội chúng Sa-môn, Bà-la-môn thời Phật, chỉ có hội chúng đệ tử của Đức Phật là có sự nhường nhịn, tôn trọng lẫn nhau thể hiện ở các hành vi: Kính lễ bậc trưởng thượng/ Không ganh tị một ai(7). Truyền thống đạo đức này sở dĩ có được là do tính khiêm hạ tạo ra.
Thứ ba, khiêm hạ không có nghĩa là hạ thấp mình mà còn có nghĩa tự khẳng định bản thân, là tôn trọng chính mình trong yên lặng tỉnh giác. Trong nghĩa này, khiêm hạ gần với lòng tự trọng. Đó cũng là điều được Đức Phật huấn thị: Hãy học các dòng nước/ Từ khe núi vực sâu/ Nước khe núi chảy ồn/ Biển lớn động im lặng/ Cái gì trống kêu to/ Cái gì đầy yên lặng/ Ngu như ghè vơi nước/ Bậc trí như ao đầy(8).
Có thể thấy, một trong những chuẩn mực ứng xử của người học Phật là thái độ khiêm hạ, định tĩnh, nhu nhuyến, thong dong và vững chãi trước dòng xoáy của bản ngã và sở hữu của bản ngã.
2. Tàm quý
Theo Đại thừa bách pháp minh môn luận giải(9) thì tàm là tự hổ với mình và quý là thẹn với người. Trong nghĩa được sử dụng rộng rãi, thì tàm quý là sự hổ thẹn với chính mình cũng như với người khác. Hổ thẹn là năng lượng đạo đức có tác dụng trong nhiều phương diện.
Trong lãnh vực tu tập, nhờ lòng hổ thẹn thôi thúc, khi nghĩ về công lao giáo hóa của chư Phật, Bồ-tát, của các bậc Thánh tăng, nên nỗ lực tu tập. Trong mười lý do phát tâm Bồ-đề, tất cả đều có liên quan đến lòng hổ thẹn đối với ân đức lớn lao mà ta đã thọ nhận(10). Chính nhờ lòng hổ thẹn này thúc đẩy mà chúng ta nỗ lực tiến tu. Không biết hổ thẹn, khó lòng thăng tiến trong tu tập. Chiêm nghiệm sâu thêm lời dạy của ngài Quy Sơn: Họ cũng là trượng phu, ta đây cũng như vậy, cũng là một dạng thức khuyến tu dựa trên hiệu ứng của lòng hổ thẹn. Do bởi nghĩa này nên kinh điển gọi hổ thẹn là hai pháp trong sáng, trắng sạch (二種白法)(11). Hổ thẹn không những là động năng thăng tiến trong thiện pháp mà cũng có thể áp dụng trong thực tiễn sinh động của con người.
Trong liên hệ đời thường, đạo đức của gia đình, xã hội được hình thành cũng nhờ lòng biết hổ thẹn. Nhờ hai pháp này nên mới có thể chỉ được đây là mẹ hay đây là chị em của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ…(12). Kinh điển Nikaya cũng gọi hổ thẹn là hai pháp trắng(13) và hai pháp này quyết định phẩm vị, đạo đức của con người, vì nếu không có hai pháp này thì thế giới sẽ đi đến hỗn loạn như giữa các loài dê, loài gà vịt, loài heo, loài chó, loài dã can(14). Nói theo kinh Trung bộ, nếu một người không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm(15). Đây cũng là điều được Đức Phật khẳng định trong kinh Phật thuyết như vậy(16).
Như vậy, hổ thẹn là một chuẩn mực đạo đức quan trọng, không những khẳng định nhân cách của con người mà còn góp phần tạo nên động lực thăng tiến ở nhiều phương diện, ở đời thường cũng như ở tâm linh. Hình ảnh một thanh niên thích trang sức, nhưng bị quấn quanh cổ một xác rắn hay xác chó... sẽ làm cho anh ta ngại ngùng, bứt rứt, xấu hổ, là minh họa sinh động về việc vận dụng thường xuyên năng lực hổ thẹn, nhằm chuyển hóa năng lượng dục vọng thấp hèn(17).
Là con người, phải biết hổ thẹn. Không biết hổ thẹn thì chưa phải là con người đúng nghĩa. Chính bởi điều này, chuẩn mực đạo đức hổ thẹn được Đức Phật khẳng định là hai pháp có khả năng che chở cho thế giới(18).
3. Trung thực
Trung thực là một chuẩn mực đạo đức được nhiều người mến mộ, tin yêu. Người trung thực luôn hứa hẹn một tương lai rộng mở. Trung thực biểu hiện qua nhiều dạng thức và quan hệ; mà ở đây, trung thực với chính mình và với tha nhân là hai tính chất chủ yếu.
Trước hết, cần phải trung thực với chính mình. Thiết tưởng điều này không cần phải bàn cãi. Mặc dù vậy, khi khảo sát sâu, mới thấy rõ đôi khi ta chưa trung thực với chính mình. Trung thực với chính mình là ý thức rõ ràng về tất cả các phương diện của bản thân như: khả năng, điều kiện, mặt mạnh cũng như mặt yếu, sở thích cũng như điều không ưa… Ẩn dụ một người đứng trên hồ nước, thì có thể nhận ra các con ốc, con sò, đàn cá bơi lội… với điều kiện hồ nước đó trong và lặng(19). Việc thắp sáng ý thức về những điều kiện của bản thân cũng như thế. Từ sự nhận thức rõ ràng này và thái độ chấp nhận đúng hiện trạng của bản thân, là sự khởi đầu cho thái độ sống trung thực với chính mình. Trung thực với chính mình có ảnh hưởng nhất định đến sự thành công của bản thân.
Thứ hai, trung thực với tha nhân. Đây là tiền đề để xây dựng niềm tin trong mọi mối quan hệ. Khi trung thực thì được người tin tưởng, và lòng tin là yếu tố quyết định sự bền vững cho mọi mối quan hệ giữa người với người. Đó cũng là điều được Đức Phật xác quyết: Ở đời này, lòng tin/ Tối thắng cho con người(20). Mở rộng ý nghĩa này có thể thấy, trong quan hệ thầy trò, vợ chồng, cha con, bạn bè… thì sự tin tưởng lẫn nhau quyết định đến hạnh phúc, bình yên cũng như tính bền vững của các mối quan hệ. Sống mà không tin nhau là hoạt cảnh của địa ngục. Và muốn tin nhau thì phải trung thực, không dối nhau. Ở nghĩa này, không trung thực hay lừa dối nhau là cửa ngõ của tội ác. Chính vì vậy, trong kinh Phật thuyết như vậy, Đức Phật đã khẳng định rất mạnh mẽ: Phàm một người nào đã vi phạm một pháp, Ta nói rằng không có ác nghiệp nào vị ấy không làm được. Thế nào là một pháp? Này các Tỳ-kheo, tức là rõ biết mà nói láo(21).
Trung thực hay không dối nhau là một chuẩn mực đạo đức cơ bản, là chất kết dính của mọi mối quan hệ, là yếu tố thành công trong mọi hoạt động của con người.
4. Kiên định
Kiên định là ý chí, là sự vững vàng trong quyết định, trong dự tính, trong mối quan hệ, trong lý tưởng hay con đường đã chọn. Tùy theo bối cảnh cụ thể mà kiên định được hiểu khác nhau. Chuẩn mực đạo đức kiên định quyết định tính cách, năng lực, giá trị… của con người.
Kiên định là sự nhất quán trong pháp tu. Với Đức Phật, đại thệ nguyện bên cội Bồ-đề trước đêm chứng đạo là sự thể hiện cho sự kiên định vững vàng: Cho dù da thịt, gân xương trở nên khô cằn, máu trong thân này dẫu có cạn kiệt, nhưng nếu không đạt đạo, Ta quyết không rời chỗ này(22). Có thể sự nỗ lực đó là đỉnh điểm của một tiến trình, nhưng qua đó đã cho thấy sự kiên định rất cần trên mọi chặng đường tu tập. Từ thệ nguyện của Đức Phật, liên hệ với con đường mà chúng ta đã và đang chọn hiện nay, có thể nhận ra những bất cập do vì không kiên định. Bởi lẽ, trong những pháp môn mà Đức Phật đã chỉ dạy, mỗi pháp hành có những yêu cầu khác biệt nhau, sự dao động trong pháp môn tu đôi khi phải trả giá bằng thời gian của cả đời người. Hơn thế, sự khác biệt giữa chúng sanh và Bồ-tát liên quan thâm thiết đến chuẩn mực kiên định này. Vì lẽ, trước hiện thực đau khổ, cả hai đều phát nguyện như nhau, tuy nhiên, yếu tố căn bản tạo nên sự khác biệt, chính là sự kiên định của mỗi bên.
Trong cuộc sống đời thường, kiên định rất cần trong mọi mối quan hệ. Trong bối cảnh này, chuẩn mực kiên định có thể được hiểu là tấm lòng trung thành, chung thủy, sắt son với tổ chức, với bạn bè, với người phối ngẫu. Đó cũng là điều được Đức Phật xác quyết trong kinh Tăng chi: Chính trong thời gian bất hạnh mới biết được sự trung kiên của một người, phải trong một thời gian dài không thể không khác được(23). Đây là một khái quát thấm đẫm trí tuệ của bậc Giác ngộ. Vì lẽ, phẩm chất đạo đức của con người được bộc lộ trong những hoàn cảnh khác nhau. Câu chuyện một dạ thờ chồng của Công chúa Yashodhara được ghi lại trong kinh Tiểu bộ(24) là hình ảnh tuyệt mỹ về đạo lý chung thủy, sắt son của người phụ nữ theo chuẩn mực đạo đức Phật giáo.
Dù trên bước đường tu hay trong thực tiễn đời sống, chuẩn mực đạo đức kiên định luôn được ca ngợi và vinh danh. Kiên định là dấu son trong phẩm hạnh cần có của một con người.
5. Không phóng dật
Trong những lời dặn dò thống thiết của Đức Phật trước khi Niết-bàn, thì không phóng dật là huấn thị thấm đẫm yêu thương(25). Không phóng dật là không buông lung, không chạy theo dục vọng, siêng năng tu tập các pháp lành. Đây là chuẩn mực đạo đức quan trọng, được đề cập trong nhiều bản kinh.
Theo kinh Tăng chi, không phóng dật là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai(26). Chỉ một pháp nhưng tác dụng không chỉ một đời, đủ thấy sự diệu dụng của pháp ấy to lớn đến mức nào. Kinh Tăng chi vừa dẫn còn sử dụng nhiều hình ảnh ấn tượng để biểu thị cho hạnh không phóng dật: như dấu chân voi, có thể dung nhiếp các dấu chân, như một ngôi nhà nóc nhọn thì mọi rui, kèo đều hướng về, như ngắt một chùm xoài thì các trái xoài đều nằm gọn trong tay, như vua Chuyển luân thì nắm quyền các vương quốc phụ thuộc, như ánh sáng của mặt trăng thì hơn hẳn những vì sao… Không những thế, các bản kinh quan trọng như kinh Pháp cú(27), kinh Tương ưng(28), kinh Tập(29)… đều ca ngợi phẩm chất đạo đức không phóng dật.
Trên phương diện tu tập, không phóng dật là yếu tố quyết định sự thành công của mọi pháp hành. Vì lẽ, thu thúc lục căn, không chạy theo ngũ dục là nghĩa thứ nhất của không phóng dật. Hình ảnh con dã can gầy gò chực chờ con rùa cử động được ghi lại trong kinh Tương ưng(30) là ẩn dụ sinh động về việc thu thúc các căn. Bởi lẽ, chỉ cần con rùa thò bất cứ một thân, phần nào ra, thì dã can sẽ tóm lấy. Do vậy, không phóng dật còn mang nghĩa tồn vong không những trong tu tập mà liên quan đến mọi dạng thức sinh tồn. Ở phương diện thứ hai, không phóng dật đồng nghĩa với tinh tấn, là siêng năng. Cần phải thấy, nhận thức được việc lành là điều quan trọng tuy nhiên đưa nhận thức vào thực tiễn đời sống là do bởi siêng năng. Siêng năng tạo nên sự thăng hoa, thành công trong mọi lãnh vực và là quán hạnh dung thông giữa pháp thế gian và pháp xuất thế.
Nếu coi quá trình tu tập và mọi sự thành công trong cuộc đời là những cỗ xe, thì không phóng dật là động lực cơ bản, không những giữ gìn cỗ xe đó không nghiêng, đổ, mà còn đưa cỗ xe tiến về phía trước.
6. Nhẫn nhục
Nhẫn nhục là sự chịu đựng, chấp nhận những khổ đau, bức bách, hủy nhục, khó chịu… do các điều kiện bên ngoài đem đến, nhưng tâm tư vẫn an tịnh. Đây là một phẩm chất đạo đức được thể hiện trong nhiều cấp độ. Trong kinh Trung bộ, hình ảnh kẻ đạo tặc dùng cưa, cưa tay chân nhưng hành giả vẫn không khởi sân tâm hay phẫn, não(31), là sự thể hiện của một phẩm chất nhẫn nhục cao tột. Phật giáo Đại thừa xem nhẫn nhục là một trong sáu hạnh quan trọng của con đường Bồ-tát.
Trước hết, trước những thách thức của điều kiện tự nhiên cũng như những tác động của con người, muốn tồn tại, cần phải biết an hòa và nhẫn nhịn. Tức là tạm an với điều kiện sống tự nhiên và nhẫn nhịn trong sự va đập, tương tác với môi trường xã hội. Nhẫn để mà sống chính là nghĩa này. Kinh Tăng chi còn gọi đó là kham nhẫn: có hạng người không nhiếc mắng lại kẻ đã nhiếc mắng, không sân hận lại kẻ đã sân hận, không gây lộn lại với kẻ đã gây lộn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đạo hành kham nhẫn(32).
Thứ hai, trong cuộc sống đời thường, đôi khi nhằm chuyển hóa người, thì nhẫn nhục cần thể hiện trong giới hạn nhất định. Câu chuyện quỷ dạ xoa Alavaka được ghi lại trong kinh Tập(33) là một ví dụ điển hình. Chuyện kể rằng, một độ nọ, Đức Phật đang ở tại trú xứ của dạ xoa Alavaka. Dạ xoa Alavaka yêu cầu Đức Phật đi ra, Đức Phật hoan hỷ đi ra; dạ xoa lại yêu cầu Đức Phật đi vào, Ngài vẫn chấp nhận thực hiện. Đến lần thứ tư, Đức Phật không thực hiện theo yêu cầu của dạ xoa, kiên quyết bảo: Này Hiền giả, Ta sẽ không đi ra. Ông cần gì thì hãy làm đi?(34). Ba lần đi ra, đi vào theo yêu cầu tinh quái của quỷ dạ xoa, đủ thấy Đức Phật đã ứng xử nhẫn nhịn nhuần nhuyễn đến mức nào.
Thứ ba, nhẫn nhục là sức mạnh. Sức mạnh đây chính là sức mạnh làm chủ bản thân mình. Vì một khi thực hiện được hạnh nhẫn nhục, chứng tỏ một năng lực tu tập hùng mạnh. Nhờ năng lực đó, mới có thể kiểm soát tâm mình. Vì chiến thắng bản thân mình là chiến công oanh liệt nhất(35). Con đường thực tập để có sức mạnh này bắt đầu bằng sự mở rộng tâm, trải tâm như đất như Đức Phật đã dạy Rahula trong kinh Trung bộ(36).
Nhẫn nhục là nhịn được những điều khó nhịn mà tâm vẫn an ổn, tuy là chuẩn mực đạo đức, nhưng mang ý nghĩa như một kỹ năng sống hướng thượng, thanh cao.
7. Biết ơn
Biết ơn được hiểu ở đây bao hàm cả việc báo ơn. Theo kinh Tăng chi, người biết ơn là một trong hai hạng người khó tìm được ở đời(37). Trong liên hệ duyên khởi, để hình thành con người, thì phải thọ nhận nhiều công ơn. Trong vô vàn những công ơn, theo kinh Đại thừa bổn sinh tâm địa quán, phẩm Báo ân(38), thì có bốn ơn cơ bản: ơn cha mẹ, ơn những người liên hệ quanh ta, ơn quốc gia và ơn Tam bảo.
Sự hiện sinh của một con người là do cha mẹ. Từ việc kế thừa nền tảng vật chất, cho đến nuôi dưỡng, kiện toàn tri thức, dựng vợ gả chồng, trao của thừa tự và hướng con về đường lành. Thực sự, khó có thể kể hết cũng như báo đáp công lao của cha mẹ. Nói như kinh Tăng chi: nếu một bên vai cõng mẹ, một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi… cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha(39).
Kế đến, với một người bình thường, sở dĩ vững vàng về kiến thức, vững chãi trong địa vị, thuận lợi trong nhịp mưu sinh, an tâm và an toàn trong đời sống… là do sự hỗ trợ của nhiều người: từ thầy tổ, thân hữu, láng giềng, dòng họ... Nhận thức rõ về các công ơn đã thọ nhận, là thái độ sống đúng mực của một người trưởng thành.
Thứ ba, được sống và sống ổn định, an toàn là phước báo của con người. Vì một khi môi trường sống được đảm bảo, thì hạnh phúc mới vững bền và có thể an tâm hoàn thành sở nguyện. Sự đảm bảo về môi trường sống là do sự quan tâm, nỗ lực và hy sinh của giới chức lãnh đạo quốc gia. Nhận thức đúng về điều này để hành xử cho hợp lẽ, là tâm thế đúng mực.
Cuối cùng, sở dĩ hiểu được bản thân, nhận ra con đường hạnh phúc, có được phương tiện phù hợp với điều kiện nghiệp lực của mình, là do diệu hạnh của Tam bảo. Nếu như cha mẹ, bạn bè, thầy tổ, quốc gia có thể giúp ta vơi khổ và hạnh phúc trong một đời, thì Tam bảo có thể giúp ta vĩnh viễn thoát khổ và an lành trong nhiều kiếp. Và do vậy, người đệ tử Phật phải nhớ ơn và nỗ lực báo đáp thâm ân Tam bảo.
Biết ơn là chất liệu dệt nên phẩm hạnh của một con người. Nhận thức đúng và đầy đủ về các ơn cũng như nỗ lực báo đáp bằng những gì có thể, là chuẩn mực đạo đức tối cần của một người học Phật.
8. Buông xả
Buông xả là nghệ thuật ứng xử trong các mối quan hệ, là sự buông bỏ những ý nghĩ mừng vui, lo khổ đồng thời nỗ lực từ bỏ các tật xấu tích lũy từ nhiều đời.
Trước hết, lo nghĩ thường gắn với phiền muộn, nhất là lo nghĩ vẩn vơ, không liên hệ đến thiện pháp. Buông bỏ mọi điều lo nghĩ, sống với thực tại hiện tiền thì hạnh phúc gõ cửa. Điều này được Đức Phật chỉ dạy trong kinh: Quá khứ không truy tìm/ Tương lai không ước vọng/ Quá khứ đã đoạn tận/ Tương lai lại chưa đến/ Chỉ có pháp hiện tại/ Tuệ quán chính ở đây(40).
Trong thực tế đời sống, đôi khi cũng khó tránh khỏi việc lo nghĩ về những điều do cuộc sống đặt ra. Tuy nhiên, học cách buông bỏ những điều nhỏ nhặt, thì đôi khi gặt hái những kết quả lớn lao. Biết buông bỏ, biết hy sinh là tiền đề dẫn đến mọi sự thành tựu. Câu chuyện chú khỉ trong kinh Tiểu bộ(41), vì hốt hoảng lo tìm hạt đậu bị đánh rơi, nên đã buông tay đánh rơi cả nắm đậu, là ẩn dụ sinh động về trường hợp này.
Không những thế, biết cách buông bỏ những ký ức liên hệ đến khổ đau là một liệu pháp điều phục tâm tích cực. Vì có những chuyện u hoài xảy ra trong quá khứ xa xưa, nhưng tâm tư cứ giữ chặt, và nỗi đau đôi khi tái hiện về, làm cho người quằn quại, tái tê. Buông xả những chuyện không hay là một trong những cách thức giữ gìn nhựa sống cho chính mình.
Hạnh buông xả còn là một dạng thức biểu hiện cho tâm thương yêu. Vì lẽ, nhờ buông xả nên dễ dàng tha thứ lỗi lầm của người, tạo cho kẻ có lỗi một cơ may để phục thiện. Buông xả còn giúp người ta trở nên rộng rãi, không ích kỷ, nhỏ nhen: Các sở hành của mình/ Không nhỏ nhen vụn vặt(42). Nhờ hạnh buông xả, nên tâm bố thí được khởi sinh. Nói theo kinh điển, nhờ buông xả, tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở(43). Ngoài ra, buông xả còn là an trú tâm với những gì hiện có. Biết cách buông bỏ những đòi hỏi không hợp lý, là một trong những cách thức để đem đến sự an ổn đời thường.
Muốn có được một cuộc sống đúng nghĩa và trọn vẹn thì phải học cách buông bỏ, xả ly. Buông xả không những giúp thanh lọc tâm, mà còn là phương thức vươn lên bằng cách từ bỏ những hiểu biết bất toàn, khiếm khuyết.
9. Dấn thân
Dấn thân là sự phát tâm vì lợi ích của tha nhân, trong một số trường hợp phải chấp nhận sự hy sinh, mất mát. Dấn thân là hành động mang tâm nguyện Bồ-tát, vì đó là sự phát tâm đem lại lợi ích cho nhiều người.
Dấn thân là phát tâm Bồ-đề, được dẫn khởi từ sự lập nguyện, phát tâm. Vì nguyện lập thì có thể độ chúng sanh, tâm phát thì Phật đạo có thể thành(44). Ở nghĩa này, Đức Phật là minh chứng cao cả cho sự lập nguyện, dấn thân: Ta mang cỏ munja/ Vững thay, đây đời sống/ Thà Ta chết chiến trận/ Tốt hơn, sống thất bại(45). Công cuộc tự chuyển hóa mình cũng đồng thời là một quá trình nỗ lực, dấn thân.
Dấn thân là hành động mang tâm nguyện Bồ-tát. Vì cuộc đời vốn dĩ đầy bất hạnh và lắm khổ đau, người mang tâm nguyện Bồ-tát luôn nỗ lực bằng những gì có thể, nhằm làm vơi khổ cho đời. Dấn thân không đồng nghĩa với sự liều mạng, quên thân. Dấn thân theo chuẩn mực Phật dạy phải dựa trên cơ sở của sức mạnh, tình thương và trí tuệ. Chỉ có như vậy thì sự dấn thân mới tròn đầy ý nghĩa, và giảm đi những tổn thất không đáng có trong khi thực thi hạnh nguyện giúp đời.
Đạo Phật mang nghĩa vị tha, và dấn thân là một biểu hiện tạm quên đi bản ngã. Dấn thân là sự tận hiến cho đời mà không nghĩ về tư lợi. Trong nhiều cách thức nhiếp hóa mọi người được đề cập trong kinh Duy Ma Cật(46), thì việc làm lợi lạc cho tha nhân (Lợi hành nhiếp) có ý nghĩa ưu thắng. Hình ảnh một cây hương tự đốt cháy mình có thể hiểu ở nhiều nghĩa, nhưng việc dâng tặng cho đời sự thơm thảo, là sự thực được ghi nhận từ cây hương. Qua những nét sơ phác về cuộc đời Đức Phật, từ nhiều kiếp sống trong 547 chuyện tiền thân, cho đến bốn mươi lăm năm thuyết giảng sau khi Thành đạo, là một thiên trường ca bất tận về hạnh nguyện dấn thân: vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người(47).
Một khi sở dục đang lên ngôi, cái ác đang chờ chực, ngấp nghé, thì cuộc đời cần lắm sự lập nguyện, dấn thân. Dấn thân biểu lộ của dũng khí, lưu xuất từ cơ sở tâm thương yêu và thể hiện bằng con mắt tuệ. Chỉ có như vậy hạnh dấn thân mới đem đến hạnh phúc, an lạc cho nhiều người.
10. Tiết tháo
Tiết tháo là khí tiết, là danh dự và phẩm vị của con người. Sống đúng với chuẩn mực đạo đức cơ bản của một con người, theo những nguyên tắc đạo đức làm nền tảng nào đó, được gọi là tiết tháo.
Phẩm chất của một con người gồm một cái tên để phân biệt, cộng với những phẩm hạnh đạo đức tương ưng. Giữ gìn phẩm hạnh đạo đức riêng có đồng nghĩa với việc giữ gìn tiết tháo. Một khi phải sống trong sự tương giao, đối đãi, khi chuyện nhục vinh, danh lợi vẫn có khả năng chi phối con người, thì việc giữ gìn tiết tháo là vấn đề mang nhiều ý nghĩa nhân bản, nhân văn. Trong hệ quy chiếu tương đối của đạo đức thế gian, thì tiết tháo vẫn đóng một vai trò quan trọng. Không nên lẫn lộn giữa các hệ quy chiếu khác nhau để xét đoán vấn đề.
Trong kinh Tiểu bộ, câu chuyện con sư tử bị làm nhục chứa đựng nhiều giá trị tham khảo(48). Chuyện kể rằng, có một con sư tử cái sống gần hang của chó rừng. Một ngày nọ, hội đủ nhân duyên, chó rừng ngỏ lời cầu hôn sư tử. Buồn bực và uất ức vì lời cầu hôn vô lễ, sư tử cái định lấy cái chết để rửa nỗi nhục kia. May mắn được gặp được sư tử em, là tiền thân Đức Phật, đã tận tình giải bày, nên sư tử chị đã vượt qua tình trạng khó xử đó. Có thể, câu chuyện chỉ là liên hệ gợi mở, nhưng qua đó cho thấy sự quý trọng tiết tháo đôi khi còn quan trọng hơn cả sinh mạng của chính mình.
Mỗi con người, mỗi chúng sanh sở hữu những phẩm vị tương ứng. Vì danh phải tương xứng người(49). Từ kẻ thứ dân cho đến nam nữ, Sa-môn, Bà-la-môn đều có những phẩm vị đạo đức cơ bản. Sống đúng theo những chuẩn mực này được gọi là sống có tiết tháo. Kinh Tương ưng đã đưa ra một khái quát đầy giá trị về tiết tháo: Giữa các loài hai chân/ Chánh giác là tối thắng/ Giữa các loài bốn chân/ Thuần chủng là tối thắng/ Trong các hàng thê thiếp/ Nhu thuận là tối thắng/ Trong các hàng con trai/ Trung thành là tối thắng(50). Có thể cần bổ chính thêm vài điều trong những phẩm vị vừa dẫn, nhưng ít ra qua đó đã cho thấy rằng, tiết tháo là điều rất mực quan trọng trong việc định hình nên phẩm chất của con người.
Tạm kết
Đạo đức là chất liệu tạo nên những hệ giá trị riêng có của con người và xã hội loài người. Đạo đức Phật giáo ngoài những nguyên tắc siêu thế, thanh cao, còn bao hàm những chuẩn mực thiết thực, không khô cứng, có thể kiểm nghiệm hiệu năng ngay bây giờ và tại đây. Mười chuẩn mực đạo đức vừa nêu tuy chưa phải là tất cả, nhưng nếu như được thực thi, thì nhất định quả ngọt sẽ đong đầy.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUTRALIA,SYDNEY.7/3/2014.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.

Thursday, 6 March 2014

Nếp sống đạo đức Phật giáo không thể thực hiện với những người sống một mình trong rừng sâu, xa lánh xã hội và mọi người. Tuy rằng, có không ít người do chưa thấu hiểu đạo Phật, cho rằng đạo Phật chủ trương một cuộc sống tách rời xã hội và thế giới hiện thực.

Nếu nghiên cứu với thái độ không thành kiến các giới luật mà Đức Phật chế định cho hàng tại gia cũng như xuất gia, dưới ánh sáng của kinh điển Phật giáo Nguyên thủy cũng như Phật giáo Đại thừa, chúng ta thấy rất rõ tính xã hội, tính nhân bản thể hiện đầy đủ trong những giới luật đó.

Hãy lấy giới sát sanh làm ví dụ. Giới không được giết hại sanh vật có nghĩa là tôn trọng, bảo vệ sự sống của các loài hữu tình, và trước hết là tôn trọng bảo vệ sự sống của con người. Nếu nói theo từ ngữ hiện đại thì không những tôn trọng bảo vệ sự sống, mà còn nâng cao chất lượng sống, về cả hai mặt vật chất và tinh thần, thật sự tôn trọng con người, tôn trọng nhân phẩm và nhân quyền. Đó chính là ý nghĩa xã hội và nhân bản của giới không sát sanh của đạo Phật.
 Đức Phật vận tâm từ cảm thắng voi say Nàlàgiri
Hiện nay, vấn đề ngăn chặn thảm họa của chiến tranh hạt nhân chính là vấn đề bảo vệ sự sống của hành tinh này. Đó là giới không sát sanh, hiểu theo tầm cỡ của cả hành tinh, của cả loài người. Nếu hiểu rộng ra nữa, thì vấn đề không phải chỉ là bảo vệ sự sống mà còn là nâng cao chất lượng sống của con người về cả hai mặt vật chất và đạo đức, tinh thần, đảm bảo mọi điều kiện cho một cuộc sống hạnh phúc và sáng tạo, một cuộc sống xứng đáng của con người có tình cảm và có lý trí. Đó chính là tính xã hội của giới không sát sanh trong Phật giáo, hiểu theo đúng ý nghĩa rộng lớn của nó.

Đối với giới không trộm cắp cũng vậy. Mặt răn đe của giới này là không được trộm cắp, không được lấy của không cho dưới tất cả mọi hình thức, lộ liễu hay tế nhị, giấu lén. Tham nhũng, hối lộ, buôn gian bán lận, lừa đảo v.v... đều thuộc phạm vi răn đe của giới này. Ai cũng có thể hiểu nếu một xã hội mà nạn tham nhũng, hối lộ, nạn lừa đảo, buôn gian bán lận trở thành phổ biến thì xã hội đó không thể tồn tại lâu dài được.

Kinh sách Phật dù là thuộc hệ Nguyên thủy hay Đại thừa đều đề cao hạnh bố thí dưới các hình thức khác nhau của nó. Thứ nhất là tài thí, tức là giúp đỡ người thiếu thốn về của cải vật chất như quần áo, đồ ăn, thức uống, nhà cửa, thuốc men, tiền bạc v.v.... Giá trị của hạnh tài thí không ở chỗ của cho nhiều hay ít mà chủ yếu là ở chỗ dụng tâm của người cho, vì lòng từ, lòng thương người thật sự; lòng bi tức là sự thông cảm sâu sắc với mọi thống khổ của đồng loại, của chúng sanh mà dấn thân chia sẻ.

Ngoài tình thương, sự thông cảm với nỗi khổ đau và bất hạnh của tất cả chúng sanh, của mọi người, người Phật tử còn trau dồi lòng hỷ xả tức là thái độ sẵn sàng chia sẻ niềm vui với tất cả mọi chúng sanh, mọi người, và nhất là tâm buông xả không chấp thủ, không vướng mắc bất cứ điều gì. Cho nên dù hình thức bố thí là thế nào, là bố thí của cải, hay bố thí pháp (pháp thí), người Phật tử chỉ có một động cơ mà thôi thúc tức là lòng từ bi hỷ xả như đã nói. Một yếu tố nữa thúc đẩy người Phật tử thực hiện hạnh bố thí không mệt mỏi là trí tuệ. Với con mắt trí tuệ, người Phật tử không thấy sự khác biệt giữa mình và mọi người, mọi chúng sanh. Đó là quan điểm vô ngã, là tinh túy của đạo đức và triết lý Phật giáo. Chủ thuyết vô ngã hướng dẫn mọi hành vi ứng xử của người Phật tử, xuất gia hay tại gia.

Người Phật tử tu hạnh Bồ-tát, tức là phát tâm tu tập theo hạnh nguyện Bồ-tát, nhằm cầu đạt quả vị Thánh cao nhất tức là thành Phật. Người Phật tử tu hạnh Bồ-tát phải là hiện thân của thuyết vô ngã. Mọi tư tưởng, lời nói và hành động của người Phật tử tu hạnh Bồ-tát phải thấm nhuần tư tưởng vô ngã, hoàn toàn không bợn chút vị kỷ. Kiếp này sang kiếp khác người Phật tử tu hạnh Bồ-tát phải làm việc không mệt mỏi để giảm nỗi khổ của chúng sanh, trợ giúp người nghèo kẻ khó, dù có phải hy sinh hạnh phúc của mình cho đến bản thân cuộc sống của mình.

Đức Phật Thích Ca, trong các kiếp trước, khi còn tu hạnh Bồ-tát đã nêu gương sáng của một cuộc sống hoàn toàn vô ngã vị tha như vậy.

Đức Phật nói trong kinh Sutta Nipata (Tập Kinh): “Hãy phấn đấu vì hạnh phúc và an lạc của những người khác”. Đối với Phật tử tu theo hạnh Bồ-tát “phục vụ là hạnh phúc và hạnh phúc chính là phục vụ”. Một cuộc sống phục vụ năng động, tích cực, không biết mệt mỏi, không đòi hỏi ai phải trả ơn, cũng không đòi ai phải ca ngợi, tán thán. Người Phật tử tu hạnh Bồ-tát phải như là người cha, người mẹ, người thầy, người anh em, người bạn đối với tất cả mọi chúng sanh. Dù là xuất gia hay tại gia, người Phật tử tu hạnh Bồ-tát đều giữ vững lập trường đó.

Lý tưởng của người Phật tử tu hạnh Bồ-tát là một lý tưởng xã hội cao đẹp nhất, vượt lên trên mọi yêu cầu của những học thuyết xã hội tiến bộ nhất của mọi thời đại. Thật là sai lầm, quá sai lầm khi phê phán đạo Phật chủ trương một nếp sống thụ động, cá nhân và vị kỷ. Và như vậy, những giới hạnh Phật chế có ý nghĩa xã hội rất to lớn.

Có thể kể ra đây những giới hạnh của đạo đức Phật giáo, có ý nghĩa xã hội lớn lao, và đã được Đức Phật nói đến khi Ngài còn tại thế, như là những giới hạnh tiêu biểu của người Phật tử:

A. Bốn nhiếp pháp: Là bốn pháp nếu thực hành thì có tác dụng thâu nhiếp, thu hút, tổ chức chúng sanh vào con đường đạo. Đó là:

a) Bố thí: giúp chúng sanh về của cải vật chất, về giảng thuyết đạo lý, bảo vệ chúng sanh khỏi bị sợ hãi.

b) Ái ngữ: nói lời thân ái dịu hiền với chúng sanh

c) Lợi hành: làm tất cả mọi Phật sự, thế sự có lợi lạc đối với chúng sanh.

d) Đồng sự: cùng làm việc với chúng sanh về tất cả mọi công việc thế sự và Phật sự có lợi.

Rất rõ ràng, bốn pháp đó chỉ có thể thực hành ở giữa xã hội, vì xã hội, vì mọi người, nhằm thu hút lôi cuốn đông đảo người vào con đường đạo chân chánh.

B. Bốn vô lượng tâm: Các Phật tử được khuyến khích tu tập bốn tâm vô lượng. Đó là:

a) Từ: Có lòng thương đối với tất cả chúng sanh như lòng thương của người mẹ đối với đứa con một của mình. Không được nhầm lẫn giữa lòng từ của Phật giáo với lòng yêu thương bình thường, lúc nào cũng pha lẫn lòng tham muốn vị kỷ, hẹp hòi và những tư tưởng chiếm đoạt cho riêng mình. Từ là lòng thương không giới hạn, không phân biệt, không đòi trả lại. Người Phật tử sống tu tập lòng từ, cũng tức là thực hiện thuyết vô ngã trong đời sống thực tế, bởi vì không còn phân biệt thân hay sơ giữa mình và người hay chúng sanh nữa.

Đức Phật dạy rằng sức mạnh của lòng từ rất lớn. Những tu sĩ Phật giáo sở dĩ sống yên ổn trong rừng sâu, là chính nhờ lòng từ tỏa ra từ con người họ đã khiến cho thú dữ lại gần họ cũng trở nên thuần hóa, không làm hại họ được.

Đức Phật dạy: “Ta sống trên sườn núi. Bằng sức mạnh của lòng từ, Ta kéo lại gần ta sư tử và hổ báo, Ta sống giữa rừng xung quanh Ta là hổ báo, heo rừng, hươu nai và trăn. Không có con thú nào sợ Ta, và Ta cũng không sợ con thú nào hết. Sức mạnh của lòng từ là nơi nương tựa duy nhất của Ta. Và Ta sống trên sườn núi như vậy”.

b) Bi: Lòng bi là sự thông cảm của người Phật tử với tất cả nỗi khổ của người khác và chúng sanh. Với sự thông cảm đó, Phật tử tự nguyện dấn thân làm hết sức mình để giảm bớt nỗi thống khổ của chúng sanh, dù cho có phải hy sinh cả cuộc sống của mình.

c) Hỷ: Lòng tùy hỷ có nghĩa là chia sẻ niềm vui với mọi người được may mắn, được hạnh phúc. Tương phản với lòng tùy hỷ là lòng ganh ghét, chỉ vui khi thấy người khác buồn khổ, và không chịu được khi thấy người khác được vui. Lòng ganh ghét dẫn tới những cử chỉ và hành vi tàn nhẫn, mất cả tính người.

d) Xả: Thái độ bình thản, không dao động trước mọi khen chê, thuận cảnh cũng như nghịch cảnh là thái độ xả, một thái độ rất khó thực hành nhưng cũng rất cần thiết giữa thế giới tràn ngập hận thù, ganh ghét, vu khống và giả dối này. Với thái độ xả, người Phật tử không có tư tưởng tham đắm, cũng không có tư tưởng thù ghét, không tìm cách xa lánh những nghịch cảnh, cũng không tìm cách cầu tìm thuận cảnh, đối với bất cứ hoàn cảnh nào cũng đều giữ được thái độ bình thản, vô tư, quân bình, không dao động.

Trên đây là những đặc trưng tiêu biểu của đạo đức Phật giáo, có giá trị nhân văn, nhân bản, mong rằng những nền tảng đạo đức này luôn được thể nhập và lan tỏa vào trong đời sống thực tiễn, để mỗi chúng ta có thể thiết lập một đời sống bình an nội tại, luôn hạnh phúc mỉm cười.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.6/3/2014.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.

Wednesday, 5 March 2014

Chúc Nhau Mùa Xuân Di Lặc.

 
Một lời chúc thường được nghe nơi các sân chùa Việt Nam, "Năm mới chúc quý bà con đạo hữu trọn hưởng Mùa Xuân Di Lặc," nguyên khởi từ đâu và có ý nghĩa gì?
Theo giải thích của Hòa Thượng Đức Niệm, trong cuốn Cho Trọn Mùa Xuân, "Xuân Di Lặc là xuân hoan hỷ, niềm hoan hỷ tràn đầy vô biên, không vướng mắc, không bận lòng, không lo âu, không phải là xuân vui theo thời gian mùa tiết đến đi, mà là xuân thường nhiên bất diệt, xuân miên viễn chơn thường, xuân phát triển khả năng thánh thiện."
Di Lặc là một nhân vật lịch sử trong nhà Phật, nhưng cũngmang đầy tính huyền thoại với nhiều chuyện kể dân gian, đặc biệt là Trung Hoa. Đối với những ngày xuân, hình ảnh Bồ tát Di Lặc còn có một ý nghĩa đặc biệt khác: Ngày mồng một Tết là ngày Vía Đức Di Lặc.
Trong bài "Đức Di Lặc Bồ Tát Hay Là Hội Long Hoa," Hòa Thượng Tâm Châu giải thích, "Nối sau Phật Thích Ca, có Ngài Di Lặc Bồ Tát là một vị Phật bổ xứ, sẽ hiện thân xuống thế giới Sa Bà giáo hóa chúng sinh. Di Lặc là tiếng Phạn; Trung Hoa dịch là Từ Thị hay Từ Tôn: Người tu tâm Đại Từ, ấy là hiệu của Ngài. Tiếng Phạn gọi là AĐật-Đa, Trung Hoa dịch là Vô Năng Thắng: không ai hơn ai, đó là tên của Ngài."
Chúng ta cũng thấy hình ảnh Ngài Di Lặc (viết theo tiếng Anh là Maitreya) trong các niềm tin khác, thí dụ như các lời tiên tri của Hội Thông Thiên Học nói về việc Đức Di Lặc hóa thân làm vị thầy tương lai, mà đầu thế kỷ này họ tin đó là đạo sư Krishnamurti; hoặc lời tiên tri về Hội Long Hoa của đạo Cao Đài.
Trong văn học dân gian, Đức Di Lặc mang hình ảnh một ông Phật bụng phệ, miệng cười thật rộng, với các em trẻ nhỏ trèo lên người nghịch phá, kéo tai, rờ bụng, chọc mũi, nhưng Ngài vẫn thoải mái cười vui, không bực dọc. Một số nhà nghiên cứu Phật học lý giải hình ảnh này như một biểu tượng tu học: Các em trẻ nhỏ tượng trưng cho 6 trần quậy phá, qua các căn nhãn nhĩ tỉ thiệt thân ý (6 căn, mắt tai mũi lưỡi thân ý), nhưng người chứng ngộ vẫn an nhiên ngồi trong Tánh Phật.
Còn về các hóa thân của Phật Di Lặc, cuốn Song Lâm Phó Đại Sĩ Ngữ Lục Hành Thế ghi rằng:
"Về đời Ngũ Quý bên Tàu, ở đất Minh Ba, huyện Phụng Hóa, Châu Ninh, có một vị Tăng hình người lùn béo, bụng to da đen, vẻ mặt nhơn từ, thường dùng một cây gậy quảy một túi vải, trong đựng bình bát, dạo khắp thôn quê thành thị, xin được bất kỳ vật gì ngon dở, Ngài đều ấn vào trong túi ấy cả, thấy vậy thiên hạ thường gọi là Bố Đại Hòa Thượng. Ngoài hai chữ Bố Đại (túi vải) ra, không một ai biết quê quán tên họ Ngài là chi.
"Ngài còn làm nhiều điều dị thường: Người nào được Ngài khất thực thì người ấy buôn bán may mắn, đắt hàng nhiều lợi. Gia đình nào được Ngài tới khất thực thì gia đình ấy làm ăn thịnh vượng, trên thuận dưới hòa. Tính Ngài hay nằm đất mà mình không lấm nhơ, hoặc có khi Ngài ngồi ngoài mưa hay trên sương tuyết mà không hề ướt áo. Khi đương nắng mà Ngài bỏ dép đi guốc thì trời sắp mưa... Các vị Tăng khác, ai có duyên gặp Ngài hỏi đạo, thì Ngài chỉ bảo cho đều được tỏ ngộ cả. Đến niên hiệu Trinh Minh năm thứ ba, tháng ba, mùng ba, Ngài ngồi trên một tảng đá lớn sau Chùa Nhạc Lâm thuyết một bài kệ rằng:
Di Lặc chơn Di Lặc
Hóa thân thiên bách ức
Thời thời thị thời nhơ
Hóa ra ngàn vạn thân
Thường đứng trước mặt người đời
Mà người đời chẳng ai biết.

"Nói xong bài kệ, Ngài liền thị tịch. Từ đó về sau, người ta đua nhau làm tượng vị Bố Đại Hòa Thượng để thời mà gọi là Phật Di Lặc." (Bản dịch của Hòa Thượng Tâm Châu)
Hòa Thượng Tâm Châu còn giải thích rằng, trong Đại Tạng Kinh, có tới 6 quyển kinh Di Lặc, ghi các lời Phật Thích Ca thuyết giảng về những điều liên hệ tới Đức Di Lặc. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời, Di Lặc Bồ Tát giáng sanh trong nhà một vị Bà La Môn, tên Ba-Bà-Lợi, ở Nam Thiên Trúc vào ngày mồng 1 tháng giêng (ngày đầu năm). Họ của Ngài là A Dật Đa (không ai hơn). Tên Ngài là Di Lặc (Từ Thị). Tên họ này tiêu biểu lòng từ bi hỷ xả vô lượng vô biên của Ngài. Từ bao nhiêu kiếp cho đến khi thành Phật, Ngài lúc nào cũng lấy danh hiệu là Di Lặc.
Nhờ Phật Thích Ca dạy tu pháp Duy Thức Quán, Ngài quán sát các pháp đều do thức tâm biến hiện, không có một vật nào chơn thật, thấu rõ được lý "Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức." Vì ngài nhận thấy cảnh giàu sang phú quý danh vọng quyền tước... đều như bóng trong gương, như trăng dưới nước, do thức tâm biến hiện, nên Ngài dẹp trừ được vọng tưởng si mê về giả cảnh, chuyển tánh Biến Kế Sở Chấp trên Y Tha Khởi trở lại làm tánh Viên Thành Thật. Vì thế nên Phật Thích Ca thọ ký cho Ngài về đời sau sẽ làm Phật hiệu là Di Lặc và bổ xứ ở thế giới Sa Bà này.
Mặc dù đã tu qua hàng trăm triệu kiếp, hình ảnh Đức Di Lặc dưới mắt một vài vị Cao Tăng môn đệ của Phật Thích ca vẫn chưa có gì là sắp thành Phật. Hay phải chăng đây cũng chỉ là chuyện các vị Bồ Tát bày trò với nhau cho vui? Chúng ta không thể biết hết những cảnh giới của chư vị này. Trong Kinh Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sinh Đâu Suất Thiên, thì Ngài Ưu Ba Ly hỏi Phật Thích Ca, "Kích bạch Thế Tôn, xưa kia Thế Tôn nói trong kinh luật rằng A Dật Đa sẽ được thành Phật ở đời sau này. Nay con thấy rằng ông A Dật Đa còn đầy đủ tấm thân phàm phu và chưa dứt hết được các lậu hoặc. Khi Di Lặc mất, sẽ sinh nơi nào? Bản thân Di Lặc, con người hiện nay, tuy là xuất gia, không tu thiền định, không dứt phiền não. Thế Tôn thụ ký cho ông Di Lặc, con không dám nghi. Nhưng con muốn biết, khi ông mất rồi, sinh vào nước nào?"
Phật dạy rằng, Đức Di Lặc sẽ sinh vào cõi trời Đâu Suất (Phạn ngữ là Tusita), và sẽ dạy pháp Duy Thức nơi đây cho đến khi thời cơ tới, sẽ lại sinh vào một gia đình Bà La Môn ở nước Ba La Nại, thương xót chúng sinh khổ não nên xin cha mẹ cho đi tu, đến ngồi thiền định và thành Phật dưới gốc cây Long Hoa. Lúc đó (một tương lai rất xa nào đó), Phật Di Lặc thuyết pháp độ chúng sinh dưới cây Long Hoa theo ba hội: Hội thứ nhứt độ được chín mươi sáu ức người thành A La Hán, hội thứ hai độ được chín mươi bốn ức người thành A La Hán, hội thứ ba độ được chín mươi hai ức người thành A La Hán. Đó là thời kỳ người ta gọi là Long Hoa Tam Hội.
Trong niềm tin dân gian, hình ảnh Đức Di Lặc còn tượng trưng cho sự may mắn. Trước cửa nhiều ngân hàng của người Hoa thường có tượng Đức Phật Di Lặc, có khi là hình ảnh nhà sư Bố Đại ngồi cười khoe rún với các trẻ nhỏ vây quanh, có khi đứng đưa cao hai tay lên trời miệng cũng cười toe toét. Đặc biệt, hầu hết các sòng bài tại Hoa Kỳ, nơi có đông cư dân gốc Á Châu, trước cửa thường để tượng Phật Di Lặc ngồi: Người ta tin là lấy tay xoa rún Ngài trước khi vào sòng bài sẽ gặp nhiều may mắn. Kinh Phật không hề dạy như vậy, nhưng niềm tin dân gian này đã thành huyền thoại và lây sang cả nhiều người da trắng.
Theo một bản tin trên báo O. C. Register hai năm trước, một phụ nữ da trắng Hoa Kỳ trúng số độc đắc đã giải thích, mỗi khi mua vé số tại tiệm tạp hóa quen thuộc ở Huntington Beach, Quận Cam, bà luôn luôn lấy tay xoa bụng tượng Phật Di Lặc trên quầy tiệm này. Không hề gì, Phật Di Lặc không hề kỳ thị tôn giáo.
Kính chúc độc giả cũng hưởng một Mùa Xuân Di Lặc, đầy bình an, may mắn, với đủ ý nghĩa của chữ Từ Thị — lòng yêu thương chúng sinh vô lượng.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.5/3/2014.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.
Mùa xuân trong đạo Phật.
            Trong tập tục cổ truyền của người Ðông phương cũng như Việt Nam chúng ta, Tết Nguyên đán tức ngày đầu năm được chọn theo âm lịch, thường vào khoảng tháng 2, tức là khi mùa xuân đã bắt đầu nẩy mầm trong khí trời còn lạnh của mùa đông. Vì thế, nói đến Tết là nói đến mùa xuân, với rất nhiều ý nghĩa của nó.
            Xuân đến thể hiện cho sự đổi mới của thiên nhiên vạn vật sau một giấc ngủ dài mùa đông, cây cỏ đang khô cằn héo úa trở nên đẹp đẽ xinh tươi, muôn mầu muôn sắc nở rộ tràn đầy sức sống. Trong khí xuân tưng bừng đó, con người cũng phấn khởi và hi vọng cho một năm mới tốt đẹp hơn. Từ bao thế kỷ nay, đi chùa lễ Phật, cầu an, cầu phước trong những ngày đầu năm đã trở thành một thông lệ không thể thiếu trong lễ Tết của Việt Nam. Ðạo Phật đã đi vào lòng nếp sống văn hóa của dân tộc, như trong câu thơ của cố hòa thượng Mãn Giác:
            Mái chùa che chở hồn dân tộc
            Nếp sống muôn đời của tổ tiên
 NGHI LỄ TRONG NGÀY TẾT
            Nói đến những nghi lễ trong ngày Tết, phải nói đến lễ cúng giao thừa trước tiên.  Giao thừa là gì? Giao là giao lại, thừa là tiếp nhận, tức là giao lại cái cũ, tiếp nhận cái mới. Ngày cuối năm được gọi là ngày giao thừa, đưa năm cũ đi, đón năm mới đến, hay là “tống cựu  nghinh tân”. Giờ phút quan trọng nhất là vào lúc nửa đêm, đúng thời điểm của hai ngày giao nhau. Thường thường tối hôm đó người ta đã làm cơm cúng mời ông bà, tổ tiên về ăn Tết với con cháu. Ðến nửa đêm lại làm một mâm cúng giao thừa, rồi cho pháo nổ xua tan những tà ma, ác khí có thể xâm hại vào nhà. Nhưng có nhiều  người cũng đến chùa dự lễ giao thừa cho long trọng hơn, nhất là ở hải ngoại, đời sống bận rộn ít có thì giờ sửa soạn Tết theo đúng lễ nghi tập tục cho gia đình, nên người ta đến chùa vừa được hưởng không khí đặc biệt ngày Tết, vừa vun trồng cội gốc tâm linh. Trong đêm khuya, để tâm hồn lắng đọng theo tiếng chuông mõ và những lời kinh, cảm thấy nhẹ nhàng như vừa trút được những gánh nặng tội chướng ưu phiền cho tan theo làn khói hương thanh tịnh. Dường như trong không khí thơm mùi trầm của chùa, người ta cảm nhận được một cái gì thiêng liêng trong giây phút giao hòa của trời và đất, của  sự vận hành trong vũ trụ ,
            Gần đến giờ giao thừa, các Phật tử đã ngồi theo thứ tự nơi chánh điện. Sau ba hồi trống Bát Nhã, các tôn đức tăng ni bắt đầu tề tựu vào rồi an vị. Giờ giao thừa vừa điểm, một tràng pháo nổ rộn rã ngoài sân, và lễ Giao thừa bắt đầu được cử hành. Sau khi dâng hương cúng Phật, tụng kinh cầu an cho các Phật tử và cho thế giới hòa bình, an lạc, có thể có một thời thuyết pháp và chúc Tết của Hòa thượng trụ trì với chư tôn đức tăng ni và Phật tử.
            Qua ngày mồng một, chùa cử hành lễ thù ân để tỏ lòng kính trọng và tri ân chư Phật, chư Bồ Tát, cũng như các bậc Tổ Sư, tôn túc đã dẫn dắt, soi đường chỉ lối cho Phật tử.
            Không chỉ ở Việt Nam, mà các nước khác ở Á Châu như Nhật Bản, Trung Quốc cũng có phong tục đi lễ chùa trong ngày Tết. Ở Nhật Bản, đêm giao thừa dân chúng chen vai thích cánh đi vào những đền chùa cầu nguyện cho niềm mơ  ước của một năm mới, trong hồi chuông trầm hùng đổ dồn 108 lần vào đúng lúc nửa đêm.
            Ngoài ra, người Việt Nam cũng có thói quen hái lộc đầu xuân. Chùa là nơi chốn thanh tịnh, không chỉ ở trong điện thờ Phật, mà còn nơi khuôn viên, với cảnh sắc xanh tươi phối hợp hài hòa đầy ý nghĩa. Ngày Tết thỉnh một nhánh lá, một cành hoa về nhà, người ta tin tưởng được phúc lộc từ chùa đem về. Ngày nay để cây cối khỏi bị tổn thất, các chùa thường để sẵn bao lì xì và trái cây như cam, quít cho Phật tử đến thỉnh về.  
 Ý NGHĨA PHẬT DI LẶC
            Ngày mồng một Tết cũng có một ý nghĩa đặc biệt trong đạo Phật. Ðó là ngày lễ vía Ðức Phật Di Lặc. Vì thế mồng một Tết đến chùa lễ Phật, không chỉ cầu an cầu phước mà còn nên phát tâm nguyện noi theo những hạnh nguyện của ngài để một ngày kia cũng được giác ngộ, xa lìa phiền não.
            Trong kinh Phật, Di Lặc là vị Bồ Tát được Ðức Phật thọ ký sẽ thành một vị Phật tương lai thị hiện nơi chốn Ta Bà để đem ánh sáng Phật đạo soi sáng, khi chúng sanh đã đến thời sa đọa tới mức tận cùng và thế gian không còn ai biết đến Phật pháp. Nhưng thời điểm tương lai ấy cũng là điều cho chúng ta suy nghĩ. Nếu tâm Phật có sẵn trong tâm chúng sanh, thì Di Lặc có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Người Trung Hoa tin rằng ngài đã hóa thân thị hiện như một vị hòa thượng được gọi là Bố Ðại trong khoảng thế kỷ thứ 10 đời Ngũ đại, có hình tướng mập mạp, vui vẻ, luôn luôn đeo một bao bố trên lưng và hay chơi với trẻ con. Nhiều câu chuyện kỳ diệu đã xẩy đến với vị hòa thượng này, và đến khi ngài thị tịch đã để lại một bài kệ nhận là Di Lặc. Vì vậy những tôn tượng của Di Lặc chúng ta thờ ngày nay đều làm theo hình ảnh của một vị sư mập mạp bụng phệ, có vẻ mặt tươi cười mặc dù có sáu đứa trẻ leo lên nghịch phá trên thân mình. Sáu đứa trẻ tượng trưng cho sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý lúc nào cũng quấy  nhiễu, lôi cuốn chúng ta theo những trần cảnh trước mắt. Nhưng Ðức Phật Di Lặc vẫn vui vẻ tươi cười, an nhiên bất động vì ngài đã điều phục được sáu căn ấy, chuyển “lục tặc” chướng ngại thành “lục thông ” thấu suốt vô ngại.
            Trong tiếng Phạn, Di Lặc được gọi là Metteya, dịch ra tiếng Hán là Từ Thị, mang ý nghĩa tâm từ trong đó. Tâm từ là một trong “tứ vô lượng tâm”, tức TỪ BI HỶ XẢ. Từ là tình thương bao la tự nhiên , Bi là thông cảm và chia xẻ cái khổ của người, Hỷ là vui với  với cái vui của người, Xả là không chấp trước không nắm giữ. Bốn tâm này như giòng suối mát ngọt ngào làm trôi đi những chướng ngại, đau buồn, sân hận, đem lại sự an vui cho mọi người. Trong những ngày đầu năm người ta thường kiêng cữ , giữ gìn lời ăn tiếng nói, tránh gây gổ giận dữ, đó cũng là một cách để thực hành Tứ Vô Lượng Tâm. Nếu có thể thực hành được như vậy suốt trong năm, thì dù có không cầu Phật, phước cũng vẫn tự đến. Ngày lễ vía Ðức Phật Di Lặc nhằm vào ngày đầu năm phải chăng đã nhắc nhở chúng ta noi theo hạnh của ngài thực hiện từ bi hỷ xả trong cuộc đời, như vậy mọi nghiệp chướng sẽ hóa giải, phiền não chuyển hóa thành Bồ Ðề, tâm thân được an lạc, tràn đầy niềm hạnh phúc.
 XUÂN TRONG Ý THIỀN
          Vạn vật vô thường, thế giới đổi thay, vũ trụ và con người vận hành không ngừng trong từng sát na theo một vòng luân hồi vô thủy vô chung.  Xuân đến, xuân đi, rồi xuân lại về. Không có mùa xuân nào là mùa xuân đầu tiên, cũng không có mùa xuân nào là mùa xuân cuối cùng. Trong cái sinh diệt không ngừng ấy, có một cái gì bất sinh bất diệt, một mầm sống vẫn tiếp nối vô cùng vô tận. Mầm sống ấy tiềm tàng trong pháp giới bao la; trong thế giới này tất cả đều do nhân duyên khởi, và những gì theo duyên hợp mà thành cũng theo duyên hoại mà tan, nhưng ở nơi gốc rễ của những hợp tan ấy là một nền tảng không hoại diệt, không thay đổi, kiên cố thường hằng, mênh mông bao trùm khắp các nhân duyên sinh diệt. Mùa xuân tượng trưng cho sự sống tiềm tàng đầy năng lực. Nhận ra cái không sinh diệt nơi chính mình là thấy được bộ mặt thật của Chúa Xuân, và đó cũng là mùa xuân bất tận của Di Lặc, tràn đầy niềm vui và hi vọng trong tương lai.
            Ðiều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, sơ tổ phái thiền Trúc Lâm Việt Nam, đã nhận diện được mùa xuân ấy, nên làm bài thơ như sau:
            Thuở bé chưa từng biết sắc không
            Xuân về hoa nở rộn trong long
            Chúa xuân nay bị ta khám phá
           
Chiếu trải vườn Thiền ngắm cánh hồng.
            Hoa nở rồi tàn, việc đến rồi đi, cuộc đời trôi qua như nước chẩy mây bay, như giấc mộng thoáng qua, nhưng trong giấc mộng đời ấy thiền giả thấy cáiï thường ngay nơi cái vô thường, thấy cái không sinh diệt ngay nơi sinh diệt, nên ung dung tự tại trước sự sinh tử của chính mình. Thiền sư  Mãn Giác trước khi thị tịch đã có mấy câu thơ rằng: 
            Xuân đi trăm hoa tàn
            Xuân đến trăm hoa nở
          Việc trước mắt đi qua
         Trên đầu già đến rồi
         Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
        
Ðêm qua sân trước một cành mai.
            Cành mai miên viễn nở mãi trong đất tâm vô biên, mặc cho mọi biến thiên tiếp nối trong dòng thời gian trôi chẩy không ngừng. Mong rằng một ngày  nào đó chúng ta sẽ thấy được cành mai của mùa xuân bất tận ấy.   HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.5/3/2014.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.

Monday, 3 March 2014

THICH NU CHAN TANH.VIET VA CHUYEN NGU TU TIENG ANH DICH SANG TIENG VIET.

Khi người ta nói rằng chúng sanh đều như mặt trăng phản chiếu trong nước trong trẻo gợn sóng bằng một làn gió nhẹ nhàng, sự phản ánh và hỗ trợ chảy nước của nó là như nhau trong việc, ở mọi thời điểm, vô thường và trống rỗng trong tự nhiên. "












    


Vô thường

Một lời tạm biệt đã là một phần của hello. Sinh tử dependently phát sinh. Niềm tin vào sự tồn tại cố hữu tạo ra sự xuất hiện rằng những điều được cố định và không thay đổi. Tuy nhiên, không có gì là một hằng số và những gì được, đã được những gì không. Vô thường luôn luôn đúng ở đây, trong từng thời điểm. Và vì vậy cái chết cũng là cuộc sống. Mọi suy nghĩ, cảm giác và nhận thức-từng giây phút, là thay đổi liên tục. Trường hợp trong sự hiểu biết này có thể sợ được duy trì? Xuất hiện bên dưới bề mặt, đến và đi, sinh tử, và rằng, không thể chỉ ra, nhưng được nhau, trống rỗng của sự tồn tại độc lập của riêng mình.






  


"
thứ rỗng, phản ánh và như thế, phụ thuộc vào điều kiện, không phải là không thể nhận thấy. Và cũng giống như trống rỗng
hình thức phản ánh trong một ly tạo ra một
ý thức trong khía cạnh tương tự, vì vậy quá tất cả mọi thứ, dù có sản phẩm nào , mạnh mẽ trong biểu hiện của họ rất
trống vắng và từ vốn bản chất
là không thật, hiện tượng này
không có gì cũng không thực thể không thay đổi ". HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.

Giới thiệu về Trí tuệ Phật giáo.TIENG ANH CHUYEN SANG  TIENG VIET TU=THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.

Chúng ta sống trong một sự nhầm lẫn. Thế giới không tồn tại những gì xuất hiện. Xuất hiện cảm giác mang lại ấn tượng rằng các đối tượng có tính chất cố định và riêng biệt của mình. Ngôn ngữ khái niệm đào sâu ấn tượng bề mặt này, tăng cường ý thức có tính chất độc lập và bê tông vào những gì nó tên, trong đó có một tự.
Từ khi còn nhỏ, một cái nhìn của thế giới như là sáng tác của các đối tượng riêng biệt được giả định. Thụ thai của hiện tượng hiện hữu trong và của chính họ và được hỗ trợ bởi bản chất của họ được gọi là sự tồn tại cố hữu. Đây là mục tiêu được bác bỏ trên con đường của giáo lý tánh Không. Sự vắng mặt của sự tồn tại cố hữu được gọi là sự trống rỗng và khi nhận ra, người ta thấy tất cả các hiện tượng như dependently phát sinh, như quan hệ và tương đối, chứ không phải là tự thành lập và thống nhất.
Tất cả các hình thức, cả hai gộp và tinh tế (như trong các đối tượng tâm thần như suy nghĩ) là interrelational, với tất cả mọi thứ phụ thuộc vào tất cả mọi thứ khác. Không có gì được tạo ra hoặc chịu đựng trong và của chính nó. Đối tượng chỉ đơn thuần là trừu tượng vì không có gì thực sự có thể được chỉ ra. Tuy nhiên, sự xuất hiện của hiện tượng như nội dung là một ảo ảnh thuyết phục nhất. Niềm tin vào sự tồn tại cố hữu của một tự và tất cả các hiện tượng khác như căn cứ vào bản chất độc lập của riêng mình và được, như vậy là ăn sâu, vì vậy tự động và phổ biến, mà rất khó để nhận ra.
Ví dụ, người ta sẽ nói tâm trí và cơ thể của tôi, như thể tồn tại một tự riêng biệt. Tự xây dựng này được coi là chủ sở hữu của tâm trí và cơ thể phức tạp, như là một cơ bản, không thay đổi tự bản chất. Tuy nhiên, không có tự độc lập như vậy được tìm thấy trong hay ngoài tâm trí và cơ thể. Tự là một khái niệm tương đối và quan hệ, một trừu tượng trong một biển của mối tương quan đó là sai lầm để tồn tại độc lập và theo đúng nghĩa của nó. sự tồn tại cố hữu là một thủ thuật tâm thần, xuất hiện ảo tưởng được xem là cách điều thực sự tồn tại. Việc thực hiện các trường hợp không có sự tồn tại cố hữu là việc thực hiện các tồn tại liên quan đến nhau và phụ thuộc. Như không có gì tồn tại trong và của chính nó, tất cả mọi thứ là không có thingness riêng của mình, phụ thuộc vào tất cả mọi thứ khác mà không đạt được thành lập độc lập.

Giáo trống rỗng Phật giáo là một cách sâu sắc bất nhị. Đối tượng của tất cả các loại, táo, xe ô tô, các hành tinh, cũng như những người và các đối tượng vi tế trong tâm như những suy nghĩ, cảm xúc và nhận thức, vv, không có thể cuối cùng sẽ được chỉ ra. Cho người ta không thể xem xét bất kỳ hiện tượng hay hoạt động mà không hiểu mối quan hệ của nó với những thứ khác.
Những gì được thực hiện để tồn tại cơ bản là như hỏa hoạn, đòi hỏi nhiên liệu, oxy, vv, như lửa không cháy chính nó. Lửa tồn tại dependently và không thể tạo ra chính nó hoặc chịu đựng như chính nó. Nếu bạn loại bỏ những điều kiện này, không có lửa. Mặc dù công nhận của chúng tôi thay đổi tất cả mọi thứ và phụ thuộc vào các yếu tố khác phát sinh, hiện tượng, kể cả những người, được sai là có tính chất bẩm sinh của riêng mình mà vẫn giữ nguyên và tiếp tục tính độc lập.
"Khi chúng ta tưởng tượng thay đổi, chúng ta tưởng tượng một điều giữ lại bản sắc của mình, nhưng thay đổi thuộc tính của nó." Jay Garfield
Để xem thông qua sự sai lầm này là rất quan trọng, bởi vì niềm tin vào sự tồn tại cố hữu là gốc rễ của các lỗi dẫn đến đau khổ. Tuy nhiên, trước hết phải xác định rõ mục tiêu của sự tồn tại cố hữu để nhằm mục đích mũi tên. Để sau đó xuyên qua tiểu thuyết tinh thần này là để trút một người tin tưởng vào và sống như thể bé đã tự sống thật sự riêng biệt trong một thế giới riêng biệt của người dân và sự vật. Đó là để được tự do của một cuộc sống của sự phân mảnh và xung đột.
 

Sự tồn tại thông thường và phụ thuộc


Trong giáo lý tánh Không, sự tồn tại thông thường đề cập đến nhận thức hàng ngày của chúng tôi và sự hiểu biết về điều này. Để hiểu được những điều thông thường cũng có nghĩa là tất cả các hiện tượng, được dependently phát sinh và do đó có sản phẩm nào có tính chất riêng của họ và được, chỉ có thể bằng lời nói và khái niệm được chỉ định. Như không có thực thể mà cuối cùng có thể được chỉ ra, bất cứ điều gì được xác định hoặc đặc trưng, ​​chỉ tồn tại trong tên. Do đó, sự tồn tại thông thường còn được gọi là sự tồn tại trên danh nghĩa, bởi vì không có tính chất độc lập hoặc vốn có thể được tuyên bố bất cứ nơi nào. Một quả táo chẳng hạn, được sản xuất trong sự phụ thuộc vào những đám mây, nước, ánh sáng mặt trời, không khí, côn trùng, gió, hạt giống, vv, không ai trong số tồn tại như những thứ của riêng của họ, hoặc. Một quả táo được sản xuất từ những gì được coi là yếu tố không táo, và do đó một quả táo không có bản chất riêng của mình. Nếu các điều kiện mà một quả táo phụ thuộc vào đã được loại bỏ, sẽ không có một quả táo còn lại. Một quả táo thiếu hạnh phúc riêng của mình. Một đám mây hoặc ánh sáng mặt trời không được coi là một quả táo. Vì vậy, một quả táo là những gì thực sự? Một quả táo là một mô tả thực tế và giá trị của những gì có thể thông thường và dependently nhưng cuối cùng không được thành lập, bởi vì một quả táo có sản phẩm nào. "những điều rỗng được sinh ra từ những sản phẩm nào." - Long Thọ Bây giờ, một quả táo không giống như một tảng đá. Tuy nhiên, nó không phải là vốn khác nhau, bởi vì một quả táo cũng phụ thuộc vào các yếu tố rock. Nó không phải là quả táo không tồn tại ở tất cả, nhưng quan điểm cho rằng chúng tồn tại trong và của chính họ đang được phủ nhận. Táo tồn tại dependently, interrelatedly, chứ không phải bằng cách thiết yếu tự nhiên, bản chất của mình hoặc là. Đặc điểm và tính chất của một quả táo xuất hiện để được hợp nhất với nhau và thuộc sở hữu của appleness. Nói cách khác, họ dường như vốn đã tồn tại. Đây là một quan niệm sai lầm, một sự xuất hiện trên bề mặt và ghi nhãn. Trong cùng một cách như một ảo ảnh không phải là nước. Sự xuất hiện thông thường và hoạt động thực tế của các đối tượng không phủ nhận trong giáo trống rỗng, và được coi là nhận thức có hiệu lực. Nếu không có nhận thức có giá trị tại tất cả, không thể có một sự hiểu biết mạch lạc của bất cứ điều gì, chẳng hạn như sự khác biệt giữa một con rắn và một sợi dây thừng, hoặc sự trống rỗng, các bác bỏ sự tồn tại cố hữu. Sự tồn tại thông thường không bao hàm một sự tồn tại ít hơn so với một số sự thật, thực tế dễ nhận thấy. Không có gì cuối cùng có thể được xác định bởi vì tất cả mọi thứ là liên quan đến nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Đây là lý do tại sao tất cả mọi thứ chỉ có thể được cho là tồn tại thông thường. Và bởi vì điều này có thể chỉ dependently và do đó thông thường tồn tại, họ có sản phẩm nào.








Trống rỗng


Trống rỗng quá, không tồn tại theo cách của con người riêng của mình. Trống rỗng là việc thực hiện một sự vắng mặt. Trong trường hợp này, sự trống rỗng là sự vắng mặt của sự tồn tại vốn có của hiện tượng. Để nói rằng điều này là có sản phẩm nào là để nói rằng sự phụ thuộc của họ vào điều kiện, phụ thuộc vào các bộ phận quan hệ của họ và khi conceptuality, là để nói rằng không có gì có thể được thiết lập một cách độc lập. Trong Phật giáo sau đó, trống rỗng không phải là nội dung của Phenomema, cũng không phải là bản chất phổ quát, cũng không có nghĩa là không tồn tại. Khi niềm tin vào sự tồn tại cố hữu được bác bỏ, sự trống rỗng, các groundlessness của tất cả các hiện tượng được thực hiện.
Khi tham gia vào thiền, có nghĩa là, trên sự vắng mặt của sự tồn tại cố hữu, sự vắng mặt này, đó là sự trống rỗng, đến được cảm nhận trực tiếp. Khi điều này xảy ra, trống rỗng được xem không khái niệm, không phải phi thường, không giống như cách mọi thứ xuất hiện thông thường. Tuy nhiên, giáo trống rỗng chống lại đồ vật hoá, chống lại biến sự vắng mặt này lại thành một nền tảng độc lập, tự nhiên hoặc tổ chức, trong đó sẽ mâu thuẫn với giáo lý của tánh Không.
Và như vậy người ta nói rằng trống vắng quá, có sản phẩm nào, dependently tồn tại, và do đó nhưng một cách khác bắt giữ các hiện tượng thông thường, mà là để trực tiếp nhận sự vắng mặt của sự tồn tại vốn có của họ.
Trống rỗng không phải là một cái gì đó để đính kèm vào, mà sẽ đánh bại mục đích giải thoát của nó. Tánh Không là nhận thức rằng sự tồn tại cố hữu là một quan niệm sai lầm, một ảo ảnh. Thậm chí trực tiếp, công nhận không suy luận về tính không, phụ thuộc vào đối tượng khái niệm để sau đó phát hiện ra sự trống rỗng của mình. Đây không phải là một giáo lý về một thực tế siêu việt, nhưng về vượt xuất hiện sai.
Bởi vì tất cả những điều Duyên đồng phát sinh và do đó có sản phẩm nào có tính chất độc lập, không ai có thể trỏ đến bất cứ điều gì như cuối cùng thực tế, tất cả mọi thứ, bao gồm cả sự trống rỗng, chỉ có thể được thông thường được chỉ định, có nghĩa là dependently và chỉ tên. Trong ý nghĩa này, để có sản phẩm nào là chỉ tồn tại thông thường. Mặc dù sự trống rỗng là một cách khác nhau khi nhìn thấy thực tế thông thường, họ đều giống nhau và không phải là một tính hai mặt. Trống rỗng do đó, không phải là một đề xuất về cách thức điều thực sự đang có. Sự khôn ngoan của giáo huấn trống rỗng là phải nhận ra rằng không có gì vốn đã tồn tại và do đó, không có nền tảng mà trên đó một thực tế khách quan hay sự thật có thể được khẳng định.
Giáo trống rỗng còn được gọi là con đường Trung đạo bởi vì cả hai bản thể và chủ nghĩa hư vô được bác bỏ thông qua việc công nhận phụ thuộc vào đồng phát sinh. Giáo trống rỗng là về tự do từ những sai lầm của họ tin rằng một trong hai cực đoan là đứng vững được. Khi sự tồn tại cố hữu được bác bỏ, nó không phải là cố gắng tìm kiếm một nơi tuyệt đối hay sự thật với đất in Ví không có sự tồn tại của nền tảng này. Giáo trống rỗng là về nhìn thấy mặc dù quan niệm sai lầm rằng bất cứ điều gì, kể cả tự, tồn tại với thiên nhiên riêng biệt của riêng mình.

Không tự riêng biệt


Trung tâm trống rỗng giáo là tầm quan trọng của nhìn thấy thông qua các huyền thoại của một tự vốn riêng biệt. Tự hư cấu này được coi là chủ sở hữu không thay đổi của một tâm trí và cơ thể phức tạp. Tự riêng biệt được xem là có tính chất cố định mặc dù thực tế là tất cả những gì được cho là cấu thành tự, luôn luôn thay đổi. Khi đó tự được điều tra kỹ lưỡng, nó nhận ra rằng không có sự tồn tại độc lập như vậy, quyền sở hữu và ngăn chặn có thể được tìm thấy.
Nhìn thấy thông qua những ảo ảnh của bản thân vốn đã tồn tại và tất cả các hiện tượng như là nhà ảo thuật người hiểu lừa và không thể bị đánh lừa bởi sự xuất hiện. Ai đến để nhận ra rằng sự xuất hiện bề ngoài của sự tồn tại cố hữu là một rối sâu sắc có điều kiện, nhưng ảo tưởng.
Trong việc nhận ra rằng tự riêng biệt của người và sự vật không thể được tìm thấy, đó là nhận ra rằng không có gì để sợ hãi bảo vệ hoặc đính kèm là. Có sự hiểu biết rằng tự được chỉ định là một trừu tượng từ một trang web không gián đoạn quan hệ phụ thuộc mà không thể được gắn xuống hoặc nằm.
Và thậm chí là sự trống rỗng là trống rỗng, không có xem đỉnh núi, không có sự phán xét ​​cuối cùng hay chân lý phải thu, trong đó có một cái nhìn từ đâu . Không có bất nhị để lại, như tất cả mọi thứ có sản phẩm nào trong mối tương tác phụ thuộc của nó. Và với nhận thức rằng không có chỗ đứng, đến niềm tin sâu sắc rằng không có nơi giảm. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.3/3/2014.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.

Saturday, 1 March 2014

Ai thấy pháp người ấy thấy Phật,
 
ai thấy Phật người ấy thấy pháp
 
       
 
 
Nội dung mà chúng ta sẽ thảo luận trong bài viết ngắn này là “Ai thấy pháp là người ấy thấy Phật, ai thấy Phật người ấy thấy pháp”. Thật ra chủ đề này không phải tác giả tự đặt mà vốn là lời Phật dạy, được tìm thấy nhiều nơi trong kinh A hàm hay Nikaya.
Nguyên nhân đức Phật nói bài pháp này, vì Tôn giả Vakkali ở nhà thợ gốm, đang bị bịnh nặng, sắp lâm chung, nhưng lòng rất muốn diện kiến dung nhan đức Thế Tôn và đảnh lễ Ngài lần cuối trước khi nhắm mắt lìa đời, nhưng không thể nào đến nơi ở của Thế Tôn được, cho nên Tôn giả Vakkali đã cho thị giả đến cung thỉnh đức Thế Tôn đến nơi mình ở. Vì lòng từ mẫn đức Thế Tôn đã thân hành đến thăm Tỷ kheo Vakkali. Sau khi đến đức Thế Tôn hỏi:
- Này Vakkali, nếu ông không có gì trách mình về giới luật, vậy có gì phân vân hay hối hận không ?
 Tôn giả Vakkali thưa rằng:
- Đã từ lâu, bạch Thế Tôn, con muốn đến để được thấy Thế Tôn, nhưng thân con không đủ sức mạnh để được đến thấy Thế Tôn..
  Đức Thế Tôn dạy rằng:
- Thôi vừa rồi, này Vakkali, có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này. Này Vakkali. Ai thấy pháp, người ấy thấy Ta, Ai thấy Ta, người ấy thấy pháp.
 
Trên đây là đoạn đối thoại giữa Thế Tôn và Vakkali. Qua mẫu đối thoại này, nó gợi ý cho chúng ta hiểu rõ một vài vấn đề căn bản trong Phật pháp. Vấn đề trước tiên mà chúng ta cần xác định nơi đây là. Đức Phật và Tỷ kheo Vakkali đứng hai vị trí khác nhau. Tỷ kheo Vakkali đứng từ góc độ tình cảm, có lòng kính ngưỡng, muốn đảnh lễ và tận mắt nhìn dung nhan đức Phật lần cuối trước khi về chốn vĩnh hằng. Thế nhưng, đức Thế Tôn không đứng từ góc độ tình cảm đơn giản để an ủi Vakkali. Ngược lại Ngài với tư cách là một vị Đạo sư đến thăm Vakkali lần cuối và tiếp tục chỉ dẫn Tôn giả Vakkali nhận ra được chân lý để giác ngộ và giải thoát, cho nên Ngài đã dạy: ‘có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này’ . Theo tôi nội hàm ý nghĩa của lời nói này thật sâu sắc mang hai ý nghĩa. Thứ nhất, Ngài chỉ cho chúng ta thấy rằng, Ngài cũng là con người bình thường như bao nhiêu con người khác, do vậy thân thể của Ngài cũng giống như bao nhiêu thân thể khác, cần có sự ăn uống ngủ nghỉ, cũng có trạng thái bịnh hoạn ốm đau và bài tiết. Những chất được bài tiết ra từ thân thể Ngài cũng có mùi tanh hôi giống như sự bài tiết của người khác. Không nên có suy nghĩ ngây thơ cho rằng, đức Phật không còn những hiện tượng này. Nếu chúng ta có cho rằng, Phật và chúng sanh khác nhau, sự khác nhau đó cũng chỉ là sự khác biệt giữa nhận thức, tức là sự khác biệt giữa người đã giác ngộ (Buddha) và chưa giác ngộ. Người đã giác ngộ không còn những loại khổ về mặt tâm lý, nhưng những loại khổ về mặt tự nhiên vẫn còn, như nóng lạnh, bịnh hoạn.v.v...Còn người chưa giác ngộ, có cả hai loại khổ tự nhiên của vật lý và tâm lý. Thật ra nổi khổ lớn nhất của con người là nổi khổ về tâm lý, không phải vật lý. Thứ hai, Ngài muốn nói rằng, Vakkali là người sống quá nặng nề về tình cảm, quá chú trọng về mặt hình thức bên ngoài của Như Lai, không thấy cái giá trị đích thực từ bên trong mà Ngài đã chứng được dưới cội cây Bồ đề. Cái giá trị của đức Thế Tôn là chân lý không phải là 32 tướng tốt hay 80 vẻ đẹp. Thế thì Vakkali muốn diện kiến cái thân tướng của Thế Tôn để làm gì ? có ích gì cho sự thuyên giảm cơn bịnh trầm trọng mà ông đang gánh chịu ? có giúp gì cho cái chết sắp cận kề mà Vakkali đang đối mặt ? Trước nổi đau khổ này, chỉ có giáo pháp mà Thế Tôn đã chứng mới có thể làm chấm dứt hay tối thiểu cũng làm giảm bớt sự đau khổ của Vakkali, cái pháp đó, chân lý đó Vakkali cần phải diện kiến thấy được trước khi qua đời, nếu không sống đời sống xuất gia vô ích, không có lợi gì cho mình huống gì là làm lợi lạc chúng sinh.
Thế thì chân lý mà Ngài chứng được dưới cội cây Bồ đề là gì ? Đó là đạo lý duyên khởi (pratiya-samutpada), nguyên lý vận hành của con người và vũ trụ, trên thế gian không có một vật, một người nào sinh tồn hay biến mất mà không theo nguyên tắc này. Đây chính là ý nghĩa mà đức Phật trình bày trong “Kinh Tạp A hàm” với nội dung như sau:
Pháp duyên khởi chẳng phải do ta làm ra, chẳng phải do người khác làm ra. Dù Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện ở thế gian, pháp này vẫn tồn tại. Như Lai tự giác ngộ pháp này, thành đẳng chánh giác...”[2]
Giáo lý mà đức Phật giác ngộ dưới cội cây Bồ đề là duyên khởi mà duyên khởi là nguyên tắc vận hành của cuộc đời, không phải do đức Phật tự mình sáng tạo ra mà nó là nguyên tắc vận hành của con người và vũ trụ, không có một cái gì một người nào lại vận hành ngoài qui luật này, cho nên giáo lý duyên khởi được gọi là chân lý. Từ chân lý trong nhà Phật được mang ý nghĩa như vậy, không phải là lời nói hồ đồ, thiếu cơ sở. Căn cứ từ giáo lý duyên khởi này, đức Phật chỉ ra bản chất con người không có cái gì gọi là ngã (atmam) hay linh hồn trường cửu, các sự vật luôn luôn ở trong trạng thái thay đổi chuyển dịch, sự chuyển dịch đó đức Phật gọi là vô thường (anitya), không có một pháp nào đứng yên cố định. Sắc đẹp, sự giàu sang, địa vị.... dù chúng ta có cố giữ đến đâu, rồi cũng phải chịu đổi thay ở một lúc nào đó. Sự khác biệt giữa người trí và kẻ ngu chính là sự nhận thức đúng hay sai, có nghĩa là thái độ của chúng ta như thế nào về thực trạng này. Người trí chắc chắn không cưỡng ép làm một việc gì trái với qui luật, do vậy khi sự vật vô thường chuyển dịch, người trí không vì vậy mà sinh buồn rầu lo âu hay có thái độ chống đối, chỉ có kẻ ngu mới muốn bắt sự vật đứng yên theo ý mình. Muốn mà không được là nguyên nhân sinh ra đau khổ.
Vì lòng thương chúng sanh trầm luân trong đau khổ, đức Phật tùy theo căn cơ và trình độ khác nhau của mỗi loại chúng sanh, dùng mọi phương tiện khác nhau chỉ cho chúng sanh thấy được chân lý này, để họ được giác ngộ và giải thoát mà hình thành Tông phái, phân chia có Tiểu có Đại. Từ điểm này nó gợi ý cho chúng ta hiểu, Pháp duyên khởi, vô thường, vô ngã là chân lý, những phương tiện hay những hình thức giáo dục khác nhau, nó không phải là chân lý, vì nó chỉ có giá trị, và phù họp với một đối tượng cụ thể và nhất định nào đó, không thể là cái chân lý chung cho mọi con người và mọi xã hội khác nhau, cho nên không được gọi là chân lý. Ở đây tôi muốn mọi người nên chú ý một điều rằng, Lòng ngưỡng mộ đó rất tốt và rất cần, nhưng chúng ta không nên lẫn lộn lòng ngưỡng mộ này đồng nghĩa sự hiểu biết về Phật pháp. Xuất phát từ lòng ngưỡng mộ tôn sùng đó, chúng ta đã phát ngôn rất bừa bãi, đôi khi có thương tổn đến Phật pháp. Ví dụ chúng ta thường nói rằng, Phật pháp là chân lý, trong khi đó chúng ta giới thiệu một số quan điểm về Phật pháp, nó hoàn toàn không liên hệ có giá trị gì với đời sống con người, đôi khi lại có hại cho cuộc sống. Trong khi đức Phật nổ lực giới thiệu, làm cho con người thấy rõ được chân lý để được giác ngộ và giải thoát thì chúng ta làm ngược lại giới thiệu với con người xã hội với những quan điểm mù mờ, đen tối, thiếu cơ sở, thiếu ánh sáng của khoa học. Thế thì những quan điểm đó làm sao gọi là chân lý được ? Có thể điều đó đúng và họp lý cho một phần tử nào đó trong xã hội, nhưng không phải là tất cả, cho nên không thể gọi là chân lý. Đó chính là lý do tại sao đức Phật dạy: Tin ta mà không hiểu ta là hủy báng ta. Hoạt động của khối óc và con tim là hai lãnh vực khác nhau, cả hai đều cần cho sự sống của con người, nhưng không thể thay thế cho nhau. Trái tim mà thay cho khối óc suy nghĩ sự việc thì cuộc đời sẽ xuất hiện biết bao sự lộn xộn và rối rắm; Khối óc mà thay thế cho trái tim làm việc thì cuộc sống của con người chẳng khác nào như sinh hoạt của tòa án, cho nên chúng ta không nên lẫn lộn giữa khối óc và con tim. Theo tôi, nên sống với nhau bằng trái tim và nên làm việc bằng khối óc.
Qua sự trình bày trên nó giúp chúng ta lý giải câu: Ai thấy pháp, người ấy thấy Ta, Ai thấy Ta, người ấy thấy pháp. Ở đây khái niệm Ta chỉ cho đức Phật, như vậy câu này được hiểu là Ai thấy pháp, người ấy thấy Phật; Ai thấy Phật, người ấy thấy pháp. Pháp ở đây chỉ cho giáo pháp duyên khởi. Ai thấy được pháp duyên khởi, người ấy cũng thấy được trạng thái vô thường, vô ngã của vạn vật và ngay cả bản thân mình. Ai đã thấy được vô thường vô ngã thì người ấy không thể chấp: “Cái này là của tôi là tôi là tự ngã của tôi”, như vậy, được giác ngộ và giải thoát. Ở đây, khái niệm giác ngộ và giải thoát là khái niệm mô tả về kết quả của sự thấy và biết, từ trong nhà Phật thường dùng là trí tuệ, chính là kết quả sự tu tập của đức Thế Tôn dưới cội cây Bồ đề. Sự giác ngộ này đã làm cho chính Ngài thoát khỏi mọi sự ràng buột khổ đau, cho nên gọi là giải thoát. Bất cứ ai giác ngộ như Ngài cũng sẽ có những sự giải thoát như Ngài không cao không thấp. Đương thời cũng đã có nhiều người của nhiều giai cấp khác nhau thực hành lời dạy của Ngài, cũng đã được giác ngộ giải thoát. Sau khi sống trong giáo pháp của Ngài, được giác ngộ giải thoát, họ mới cảm thấy rằng, sự khác biệt giữa đường lối tu tập của đạo Phật và các tôn giáo truyền thống Ấn độ rất xa. Đức Phật thì khuyên con người “Đến đạo Phật để thấy và biết, giải quyết khổ đau, chứ không phải để tin” còn các tôn giáo khác thì đặt nặng niềm tin niệm chú và cầu nguyện. Đó chính là lý do tại sao có nhiều người sau khi nghe đức Phật nói pháp bèn phát biểu:
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích.
Như vậy, điểm nổi bật của đức Phật Thích Ca Mâu Ni là sự giác ngộ giải thoát, không phải là 32 tướng tốt hay 80 vẻ đẹp, nguyên tắc để trở thành bậc giác ngộ giải thoát chính là thấy được pháp duyên khởi vô thường vô ngã. Như vậy, ai muốn thấy Phật thì người ấy phải thấy được pháp. Cũng vậy, ai đã thấy được pháp duyên khởi vô thường vô ngã cũng có nghĩa là người ấy đã thấy Phật, vì khái niệm Phật với khái niệm pháp chỉ cho người thấy chân lý và chân lý.
Như vậy, tỷ kheo Vakkali nếu muốn diện kiến đức Thế Tôn cần nên diện kiến sự giác ngộ và giải thoát, nếu như Vakkali muốn tỏ lòng ngưỡng mộ đức Thế Tôn thì Vakkali nên thực hành giáo pháp của Ngài, nếu như Vakkali muốn đoạn trừ những nổi khổ đau cho mình thì Vakkali chính mình phải giác ngộ lý duyên khởi vô thường và vô ngã., còn nếu như Vakkali muốn hóa độ chúng sanh thì trước tiên Vakkali phải giác ngộ chân lý. Đó là nội dung và ý nghĩa câu: “Ai thấy pháp, người ấy thấy Phật; Ai thấy Phật, người ấy thấy pháp” khi Ngài khuyên tỷ kheo Vakkali lúc lâm bệnh.
Dẫu rằng, đây là lời dạy của Thế Tôn cho Tỷ kheo Vakkali trong quá khứ. Tôi tin rằng, nội dung và ý nghĩa của nó vẫn còn có giá trị thiết thực cho Phật giáo ngày nay. Phải chăng chúng ta đang cố tô son phết vàng ca ngợi 32 tướng tốt của đức Phật nhưng chúng ta lại vô tình hay cố ý quên đi giáo pháp mà Ngài đã giác ngộ ? Phải chăng với lòng kính ngưỡng chúng ta dùng mọi lời tán dương, giới thiệu tính siêu việt của hệ thống triết lý nhà Phật, nhưng chúng ta quên rằng thế hệ tuổi trẻ ngày hôm nay là thế hệ được được trưởng thành trong xã hội tiến bộ về khoa học kỷ thuật, và được đào tạo trong hệ thống giáo dục tiên tiến, có trình độ chuyên môn cao, chúng sẽ khó chấp nhận những quan điểm mù mờ thiếu cơ sở khoa học. Trong khi đó phần lớn của con người trong xã hội ngày nay, quan tâm đến những vấn đề có liên quan đến con người và xã hội mà họ đang sinh tồn, không phải là những vấn đề mang tính triết lý siêu hình.
Tôi tin rằng, giáo lý mà đức Phật giác ngộ là giáo lý cho con người, đối tượng mà đức Phật giáo dục là con người. Dẫu rằng hệ thống giáo lý đó đề cập giải quyết những vấn đề cụ thể trong quá khứ, đôi khi không còn phù họp cho con người và xã hội ngày nay, nhưng ngang qua những hình thức giào dục đó, nó vẫn ẩn chứa một nguyên lý tinh thần giáo dục mà đức Phật muốn gởi cho các thế hệ sau không cùng xã hội và lãnh thổ. Nguyên lý đó, tinh thần đó có giá trị tuyệt đối, áp dụng cho mọi thời đại và con người.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.2/3/2014.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.